Kể từ những năm đầu thế kỷ XX, chỉ số tổng hợp được sử dụng rộng rãi nhất để mô tả sức khỏe dân số là tuổi thọ trung bình khi sinh (LEB hoặc e0) (Canudas-Romo V. & Stan Becker, 2011). Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống khi sinh là triển vọng của một người có thể sống được bao nhiêu năm nếu như mô hình chết hiện tại vẫn được duy trì (Tổng cục Thống kê, 2011)

Những thay đổi của mức chết trong năm đầu đời (tử vong trẻ dưới 1 tuổi) ảnh hưởng mạnh đến tuổi thọ. Tuy nhiên, nếu như chúng ta chỉ quan tâm tới riêng LEB thì hoàn toàn chưa phù hợp, để nghiên cứu sự trường thọ (độ dài của cuộc sống) của dân số già, cần sử dụng cả hai chỉ báo: mức chết trẻ sơ sinh (dưới 1 tuổi) và kỳ vọng sống khi 1 tuổi (e1) nhằm so sánh về mức độ tử vong của dân số (Canudas-Romo V. & Stan Becker, 2011; Kintner, 2004). 

Vậy ở Việt Nam, kỳ vọng sống khi sinh và kỳ vọng sống khi 1 tuổi có khác biệt không, nếu có thì mức khác biệt này là bao nhiêu và liệu xu hướng khác biệt này có thể thay đổi được không? Tỷ lệ tử vong của các nhóm tuổi phải giảm bao nhiêu phần trăm để tuổi thọ tăng thêm được 1 tuổi? Thông qua bảng sống (Life Table), khảo sát tuổi thọ và xác suất chết của từng nhóm tuổi của Việt Nam sẽ là các bằng chứng giải đáp những câu hỏi trên - một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh sức khỏe nhân dân.

Biến đổi kỳ vọng sống khi sinh và khi 1 tuổi của Việt Nam

Trong nhân khẩu học, cần phân biệt rõ trường thọ hay sống lâu và tuổi thọ trung bình, bởi các khái niệm này không đồng nhất. Kỳ vọng sống khi sinh được hiểu là số năm trung bình mà một trẻ em hoặc một nhóm trẻ em mới sinh được kỳ vọng sống sót trong quãng đời còn lại. Trường thọ đề cập đến đặc tính sống lâu của một số thành viên trong một tập hợp dân số. Mặt khác, LEB là một con số trung bình, trong khi một người nào đó cũng có thể chết nhiều năm trước hoặc sau so với số tuổi được “mong đợi”. 

Tuổi thọ trung bình là một trong những yếu tố dùng để đo lường chỉ số phát triển con người (HDI) của mỗi quốc gia, cùng với tỷ lệ người lớn biết chữ, giáo dục, và mức sống (UNDP, 2010). Tuổi thọ trung bình cũng được sử dụng trong việc mô tả chất lượng sống của một khu vực hay một cá nhân và chênh lệch về tuổi thọ thường được trích dẫn như là minh chứng của sự cần thiết phải chăm sóc y tế tốt hơn hoặc tăng cường hỗ trợ xã hội.

Với mục tiêu tăng tuổi thọ của dân số để sống càng lâu càng tốt, nếu như có thể ngăn ngừa những trường hợp tử vong trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống – ví dụ như 0-10 tuổi hoặc 50-60 tuổi – vậy ở thời kỳ nào sẽ là tốt nhất? Câu trả lời rất đơn giản - thời kỳ đầu tiên của cuộc sống, vì trẻ em tử vong sẽ bị mất toàn bộ những năm tiếp theo của tuổi thọ. 

Tuổi thọ trung bình độ tuổi x, ký hiệu là ex, là số trung bình của tổng số năm còn sống được của những người sống đến độ tuổi x (Tx) và tổng số người còn sống đến độ tuổi x (lx), được quan sát trong tập hợp tử vong trong năm đó. (Phùng Thế Trường, 1997). Tuy nhiên, để tính toán được tuổi thọ không hề đơn giản, trong nhân khẩu học người ta thường sử dụng bảng sống :

Có rất nhiều yếu tố tác động tới mức chết của nam và nữ như di truyền, tâm lý, xã hội và kinh tế. Ví dụ về sinh học, phụ nữ có khả năng sống sót cao hơn nam giới nhưng có thể tử vong khi mang thai, trong khi đó nam giới lại thường có những hành vi nguy hại cho sức khỏe như hút thuốc, uống rượu, hoặc bị chấn thương, tử vong vì bệnh tật, chiến tranh cao hơn nữ (WHO, 2004). Vì vậy, khi khảo sát tuổi thọ cần thiết phải phân tách sự khác biệt theo giới tính. 

Biểu đồ trên cho thấy, tuổi thọ trung bình (LEB = e0) của nam và nữ tăng liên tục trong hơn ba thập kỷ qua và tuổi thọ của nữ luôn cao hơn của nam. Nếu năm 1979, e0 của nam là 63,7 và của nữ là 67,9 thì đến năm 2013 tăng lên tương ứng là 70,5 và 75,8. Mặc dù tuổi thọ trung bình của nam và nữ đều có xu hướng tăng nhưng của nam tăng chậm hơn so với của nữ (6,8 năm so với 7,9 năm), kéo theo khoảng cách giữa tuổi thọ của nam và nữ ngày càng tăng (4,2 năm  vào 1979 so với 5,3 năm vào 2013).

Theo một số tài liệu nhân khẩu học, LEB hay tuổi thọ ở 0 tuổi (e0) thấp hơn kỳ vọng sống tại 1 tuổi (e1), “Như một quy luật, kỳ vọng sống sẽ giảm khi tuổi x tăng, chỉ có một ngoại lệ rơi vào năm đầu tiên của cuộc sống là trái ngược, vì sự thực là tỷ lệ tử vong cao hơn trong năm đầu tiên” (Chiang, 1984).

Số liệu cũng cho thấy, ở Việt Nam kỳ vọng sống ở 1 tuổi (hay tuổi thọ của dân số ở 1 tuổi) e1 cao hơn e0 ở cả nam và nữ nhưng sự khác biệt này đang dần thu hẹp, giảm mạnh ở cả nam và nữ từ 2,0-2,1 tuổi xuống chỉ còn 0,1-0,2 tuổi.

 

Bảng 1. Biến động kỳ vọng sống e0 và e1 theo giới tính, Việt Nam, 1979-2013

Kỳ vọng sống

(năm)

1979

2013

Nam

Nữ

Nam

Nữ

e0

63,7

67,9

70,5

75,8

e1

65,7

70,0

70,7

75,9

Khác biệt (e1-e0)

2,0

2,1

0,2

0,1

Nguồn: TCTK (2013), Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2013; Dân số Việt Nam 1/10/1979

 

Hoán đổi giữa kỳ vọng sống khi sinh và kỳ vọng sống khi 1 tuổi trên thế giới.

Các nghiên cứu về tuổi thọ theo xu hướng thời gian thường tập trung vào một độ tuổi nhất định, đặc biệt là LEB và ít chú ý đến các mối quan hệ hoặc sự mất cân bằng tuổi thọ ở các lứa tuổi khác nhau (Canudas-Romo V. & Stan Becker, 2011).

Các phương pháp nhân khẩu học thay đổi liên tục theo thời gian và các chức năng bảng sống cũng không ngoại lệ. Khảo sát biến động tuổi thọ trong bối cảnh phát triển vào nửa sau của thế kỷ XX cho thấy, tại một số quốc gia đã trải qua một hiện tượng giao chéo của hai tuổi thọ e0 và e1. Nói một cách khác, ở những nơi này đã xảy ra sự nghịch đảo của tỷ lệ tử vong, cụ thể, kỳ vọng sống khi sinh (e0) cao hơn kỳ vọng sống tại 1 tuổi (e1).

 

 

 

Khảo sát trường hợp điển hình về sự biến động về tuổi thọ theo độ tuổi vào các thời điểm khác nhau của dân số Hà Lan (Hình 2) cho thấy năm 1850, tuổi thọ trung bình chỉ cao hơn so với tuổi thọ sau tuổi 21 (e21). Trong thời gian tiếp theo, xu hướng này tiếp tục thay đổi, đến năm 1950 chỉ còn lại tuổi thọ e0 cao hơn không nhiều so với e1 vào năm 2000 rõ ràng e0 > e1. Xu hướng biến đổi tương tự về sự cách biệt giữa LEB và kỳ vọng sống ở 1 tuổi có thể thấy ở các quốc gia khác (Canudas-Romo,V. and Engelman, M, 2009). Ví dụ, thực tế này đã xảy ra đối với dân số Canada e0e1 vào năm 1976, năm 1977 đối với nam và 1975 đối với n giới (Bảng 2).

 

Bảng 2. Kỳ vọng sống khi sinh (e0) theo giới tính và thời điểm cân bằng (e0 = e1) của một số quốc gia trên thế giới

 

Quốc gia

 

Nam giới

 

Nữ giới

 

Số năm chênh lệch

 

Năm

 

Tuổi thọ

 

Năm

 

Tuổi thọ

Canada

1977

70,64

1975

77,23

2

Hoa Kỳ

1980

69,99

1977

77,08

3

Úc

1977

70,00

1974

75,46

3

Nhật Bản

1971

70,13

1968

74,29

3

Estonia

1988

66,44

1983

74,83

5

Ba Lan

1995

67,60

1994

76,05

1

Liên bang Nga

2001

58,89

2000

72,24

1

Đan Mạch

1972

70,80

1966

74,78

6

Thụy Sỹ

1974

71,17

1970

76,16

4

Nguồn: Human Mortality Database (2010). 

 

Phân tích số liệu về tử vong của các quốc gia từ cơ sở dữ liệu của WHO cho thấy, đối với các nước có thu nhập cao, LEB - e0 tính toán từ các bảng sống hiện nay cao hơn so với tuổi thọ ở bất kỳ độ tuổi nào khác. Tuy nhiên, trong quá khứ cũng như tại hầu hết các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi cao vì vậy kỳ vọng sống khi sinh luôn có giá trị thấp hơn so với kỳ vọng sống ở các độ tuổi khác. Trong những quần thể này, những người sống sót qua hiểm nguy ở thời thơ ấu có tuổi thọ cao hơn so với trẻ sơ sinh và tuổi thọ cao nhất có được không phải khi sinh mà ở độ tuổi lớn hơn.

Giảm mức chết bao nhiêu để tăng thêm 1 năm tuổi thọ ở Việt Nam

Nếu có thể làm giảm mức chết ở mọi lứa tuổi, chắc chắn tuổi thọ sẽ tăng lên, tuy nhiên vấn đề ở chỗ là mức chết cần giảm bao nhiêu để tuổi thọ tăng thêm 1 tuổi?

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, ở Việt Nam tuổi thọ của nam giới năm 2013 là 70,5 tuổi và của nữ giới là 75,8 tuổi, vậy giả sử ở mỗi độ tuổi, số người tử vong giảm 5% thì sẽ có khoảng 3,5 năm và 3,8 năm tuổi thọ tăng thêm tương ứng ở nam và nữ giới. Tuy nhiên, kết quả tính toán cho thấy tuổi thọ tăng nhưng không đơn giản như vậy.

Khi giảm mức chết ở tất cả các độ tuổi xuống 5% đồng nghĩa với việc tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR hay Mx) giảm 5%. Đồ thị dưới đây phản ánh sự khác biệt của Mx trước và sau khi giảm 5%, dễ dàng nhận thấy 2 đường cong Mx và Mx giảm 5% gần như trùng khít với nhau với sự chênh lệch rất nhỏ, trên thực tế rất khó phân biệt.

Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi cao ở nhóm dân số 0 tuổi, giảm nhanh ở những tuổi tiếp theo và thấp nhất ở giai đoạn 5-30 tuổi, sau đó tăng mạnh từ 55 tuổi trở đi. Với trợ giúp của bảng sống, dựa vào phương pháp được trình bày trong cuốn “Methods and Models in Demography” của Newell C., có thể tính được ở Việt Nam năm 2013, khi giảm 5% mức chết ở tất cả các độ tuổi thì tuổi thọ của nam giới chỉ tăng lên được đúng tròn 1 tuổi và của nữ giới tăng thêm 0,9 tuổi (Nguyễn Văn Tuấn, 2010).

 

Bảng 3. Dân số, ASDR, số tử vong của nhóm 0 và 1-4 tuổi theo giới tính, Việt Nam, 2013                                       

Tuổi

Dân số (người)

ASDR hoặc Mx (‰)

Số tử vong (người) *

5% số tử vong (người) *

 

 

 

A

B

C = A x B

D = 5% C

 

Nam

Nữ

Nam

Nữ

Nam

Nữ

Nam

Nữ

 

0 tuổi

913.820

790.264

0,0177

0,0134

16.175

10.590

809

529

 

1 - 4 tuổi

3.083.368

2.796.644

0,0032

0,0007

9.867

1.958

493

98

 

                             

Nguồn: TCTK (2013).  Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2013.

* Tính toán của tác giả

 

Một điều đáng chú ý khi khảo sát ASDR theo giới tính cho thấy tỷ suất này của nam luôn cao hơn nữ ở mọi nhóm tuổi nhưng ở nhóm dân số 0 tuổi thì có sự khác biệt lớn và đặc biệt là ở nhóm 1-4 tuổi, ASDR của nam cao gấp 4,5 lần so với nữ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tuổi thọ của nam giới thấp. Mặt khác, theo quy luật, tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi (IMR) thấp thì tỷ suất chết trẻ em < 5 tuổi (U5MR) cũng thấp. Tuy nhiên, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ở nhóm 1-4 tuổi ở Việt Nam chưa tốt, cụ thể: so với Trung Quốc, IMR của Việt Nam thấp hơn, còn U5MR lại cao hơn (Bộ Y tế, 2015).

Nếu chỉ tính riêng số tử vong ở những năm đầu đời, với việc giảm dù chỉ 5% số tử vong của trẻ em < 1 tuổi thì trung bình cần phải giảm số chết cho 1.338 trẻ (809 trai và 529 gái), tương tự, đối với trẻ từ 1-4 tuổi thì cần phải giảm 591 trẻ (493 trai và 98 gái). Đây thực sự là một thách thức rất lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe nói riêng và rộng hơn là đối với sự phát triển về kinh tế-xã hội của đất nước.

Nếu như mức chết không tăng theo tuổi tác thì khi tỷ lệ tử vong giảm đi 5% thực sự sẽ làm tăng thêm khoảng 5% tuổi thọ. Nhưng trong thực tế, tỷ lệ tử vong không chỉ tăng lên theo tuổi tác mà đường cong mức chết còn tăng nhanh với “gia tốc lớn”, vì vậy để có được sự cải thiện về tuổi thọ là một việc không dễ dàng.

Mục tiêu đề ra trong “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020” đối với tuổi thọ trung bình vào năm 2010 và 2015 phải đạt tương ứng 73,0 và 74,0 tuổi. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 2010-2014, tuổi thọ của người Việt giao động trong khoảng 72,9 đến 73,2 tuổi (TCTK, 2010-2014), có nghĩa là mỗi năm tuổi thọ trung bình e0 chỉ tăng thêm được 0,1 tuổi. Như vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ không đạt được mục tiêu về tuổi thọ vào 2015 như đã đề ra.

Bàn luận

Quá trình chuyển đổi nhân khẩu học được mô tả là sự suy giảm từ cao xuống thấp của mức sinh và mức tử vong (Notestein 1945; Davis năm 1945; Lee 2003). Các khía cạnh của quá trình này được đặc trưng bởi giảm tỷ lệ tử vong và sự gia tăng tuổi thọ. Xu hướng phát triển chung cho thấy sự mất cân bằng trong bảng sống - tức là khi tuổi thọ trung bình thấp hơn so với một tuổi (e0 < e1) - dần được xóa bỏ. Sự mất cân bằng này kết thúc khi e0 = e1 và ở Việt Nam trong tương lai tuổi thọ trung bình cũng sẽ đạt giá trị cao nhất ở 0 tuổi, điều này trên thực tế đã đạt được ở những quốc gia có trình độ phát triển cao.

Giảm mức chết là không dễ dàng, vì điều đó phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ... Do đó, tử vong luôn là chủ đề nghiên cứu quan trọng trong nhân khẩu học và nhiều ngành khoa học khác có liên quan như dịch tễ học, y tế cộng đồng hay thống kê,v.v.. và mục đích của các nghiên cứu là thu được những thông tin khoa học cần thiết để cải thiện cuộc sống thông qua các chương trình và chính sách thích hợp (TCTK, 2009). Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, trong từng giai đoạn cụ thể, khi xây dựng chính sách phát triển cần phải dựa vào những bằng chứng khoa học đáng tin cậy và có tính khả thi.

Tài liệu tham khảo

1.     Bộ Y tế, 2015. Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2014.

2.     Canudas-Romo, V. and Engelman, M. (2009). Maximum life expectancies: Revisitingthe best practice trends. Genus LXV(1): 59–79

3.     Canudas-Romo, V. & Stan Becker, 2011. The crossover between life expectancies at birth and at age one: The imbalance in the life table. Demographic Research, Volume 24, Article 4, Pages 113-144 Published 28 Janury 2011

4.     Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 được phê duyệt theo Quyết định Số: 579/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 04 năm 2011.

5.     Nguyễn Văn Tuấn. Cách tính tuổi thọ trung bình. http://ykhoa.net/baigiang/lamsangthongke/lstk13_tinhtuoithotrungbinh.pdf, truy cập ngày 17/3/2013.

6.     Phùng Thế Trường, 1997. Giáo trình Dân số học (Dành cho sinh viên chuyên ngành dân số). Nhà xuất bản Thống kê 1997.

7.     Notestein, F.W. (1945). Population - the long view. In: Schultz, T.W. (ed.) Food for the world. Chicago, USA: University of Chicago Press.

8.     UNDP, 2010. HDR 2010. Technical notes. Page 215

9.     World Health Organization, 2004. “Annex Table 2: Deaths by cause, sex and mortality stratum in WHO regions, estimates for 2002”. The world health report 2004 - changing history. Retrieved November 1, 2008.

 TS. Nguyễn Thị Minh Hòa[1]

ThS. Hà Tuấn Anh*


[1] ĐH Lao động- xã hội.

* ĐH Kinh tế quốc dân 

 

Liên kết