DÂN SỐ VIỆT NAM QUA KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ VÀ NGUỒN LAO ĐỘNG 1/4/2003

 

Điều tra biến động dân số và nguồn lao động 2003 do Tổng cục Thống kê thực hiện là một điều tra mẫu đại diện cung cấp các thông tin cơ bản về dân số (biến động mức sinh, chết, hôn nhân, di cư và KHHGĐ) và lực lưọng lao động (việc làm, thất nghiệp, sử dụng thời gian lao động). Cuộc điều tra được tiến hành ở 3.600 địa bàn mẫu trong cả nước với tổng số 1,6 triệu người. Mỗi tỉnh/thành phố tổ chức điều tra mẫu khoảng 26.400 dân, tương đương 5.860 hộ. Trong bài này chúng tôi xin giới thiệu một số thông tin chính về tình hình dân số.

 

CƠ CẤU VÀ PHÂN BỐ DÂN SỐ
1. Quy mô dân số

Năm 2003 quy mô hộ trung bình của Việt Nam là 4,4 người, thấp hơn 0,2 người so với Tổng điều tra dân số 1999 (4,6 người). Số hộ 4 người chiếm tỷ trọng cao nhất (28,1%). Hộ gia đình nhỏ (từ 4 người trở xuống) là phổ biến, đặc biệt la khu vực thành thị. Quy mô hộ gia đình ở thành thị và nông thôn chênh lệch ít (4,2 và 4,4 ng/hộ). Đồng bằng sông Hồng có quy mô hộ gia đình thấp nhất (3,8 ng/hộ), cao nhất nhất là Tây Bắc (5,1 ng/hộ), (Hình 1).


Biểu 1: Phần trăm số hộ của từng loại hộ và quy mô hộ trung bình (ng/hộ), 2003

 
 

Phần trăm số hộ của từng loại hộ

Quy mô hộ trung bình

1-2 người

3 người
4 người

5 + người

(người/hộ)
 
Cả nước
14,0
16,6
28,1
41,4
4,4
 
   - Thành thị
15,2
20,2
29,9
34,8
4,2
 
   - Nông thôn
13,6
15,3
27,4
43,7
4,4
 
ĐB sông Hồng
18,6
17,9
32,9
30,6
3,8
 
Đông Bắc
11,6
17,2
30,7
40,4
4,3
 
Tây Bắc
7,5
14,0
25,7
52,9
5,1
 
Bắc Trung bộ
15,1
14,2
25,6
45,2
4,3
 
DH Nam Trung bộ
14,7
14,0
25,3
46,0
4,4
 
Tây Nguyên
9,5
14,2
24,7
51,6
4,8
 
Đông Nam bộ
13,5
17,2
25,4
43,8
4,5
 
ĐB sông Cửu Long
10,9
17,8
26,5
44,8
4,5
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

2. Phân bố dân số

Gần một nửa dân số (43%) sống tại hai vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, nơi chỉ chiếm 17% diện tích cả nước. Ngược lại, chỉ có dưới một phần mười (8,5%) dân số sống ở Tây Bắc và Tây Nguyên, nhưng diện tích các vùng này chiếm tới hơn 1/4 (27%) diện tích cả nước.

3. Cơ cấu tuổi của dân số

Do mức sinh giảm liên tục và tuổi thọ tăng lên trong những năm gần đây, dân số Việt Nam có xu hướng già hoá với tỷ trọng dân số, dân số trẻ giảm và tỷ trọng người cao tuổi tăng.

Hình 1 cho thấy sự thu hẹp đáng kể của hai nhóm tuổi (0-4 tuổi và 5-9 tuổi) ở đáy tháp. Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33% năm 1999 xuống 29% năm 2003. Trong khi tỷ trọng này ở nhóm từ 65 tuổi trở lên tăng từ 5,8% năm 1999 lên 6,5% năm 2003.

Tỷ lệ dân số phụ thuộc của Việt Nam giảm khá nhanh qua các năm (Biểu 2). Sau 24 năm (1979-2003), tỷ lệ phụ thuộc chung giảm tới 37 điểm phần trăm. Hầu hết sự giảm này là do giảm tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (37 điểm phần trăm), trong khi tỷ lệ phụ thuộc người già tăng chậm, gần như không đổi.


Biểu 2. Các tỷ lệ phụ thuộc qua các năm

 
 
1979*
1989*
1999**
2003
Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (0-14)
84
73
56
47
Tỷ lệ phụ thuộc người già (60+)
14
13
14
14
Tỷ lệ phụ thuộc chung
98
86
70
61

(*) Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam. Kết quả điều tra mẫu

(**) Số liệu điều tra toàn bộ

 
TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN
1. Mức độ kết hôn

Ở Việt Nam, tỷ trọng dân số hiện có vợ có chồng vẫn ở mức cao. Với dân số từ 15 tuổi trở lên, 65% dân số nam và 61% dân số nữ hiện đang có vợ hoặc có chồng. Tỷ trọng nam chưa vợ cao hơn 6 điểm phần trăm so với tỷ trọng nữ chưa chồng. Tỷ trọng góa, ly hôn và ly thân của nữ khá cao so với nam giới (Biểu 3).


Biểu 3: Phần trăm dân số 15+ theo tình trạng hôn nhân, 2003

 
 
Chưa vợ/chồng
Có vợ/chồng
Goá
Ly hôn
Ly thân
Nam
32,5
64,9
2,0
0,5
0,2
Nữ
26,3
61,1
10,7
1,3
0,6
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Ở những nhóm tuổi trẻ, nữ có xu hướng kết hôn nhiều hơn nam. Có 6,5% nữ 15-19 tuổi hiện đã kết hôn so với 1,6% nam giới cùng nhóm tuổi. Sự chênh lệch này giảm dần khi nhóm tuổi tăng, nhưng từ nhóm tuổi 30-34 tỷ trọng đã từng kết hôn của nam cao hơn nữ. Nhìn chung nam giới kết hôn muộn hơn, nhưng kết hôn ở nam giới phổ biến hơn.

Năm 2003, tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của nam là 26,2 và nữ là 23,1 tăng từ 25,4 và 22,8 năm 1999. SMAM của thành thị (nam: 28,3, nữ: 24,7) cao hơn tương đối so với nông thôn (nam: 25,5, nữ: 22,6). Có sự khác biệt khá rõ về SMAM theo vùng: SMAM của Đông Nam bộ cao nhất (nam: 28,1, nữ: 24,3) và thấp nhất ở Tây Bắc (nam: 23,1, nữ: 21,0).

2. Kết hôn ở tuổi 15-19

Trong phạm vi cả nước, tỷ trọng đã từng kết hôn của nam 15-19 tuổi là dưới 2% và của nữ ở nhóm tuổi này là gần 7%, giảm nhẹ với Tổng điều tra dân số 1999 (tưong ứng là 2% và 9%).

Tỷ trọng kết hôn của nhóm dân số này thấp nhất là tại Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ (<1%), trong khi cao nhất là ở Tây Bắc (9%). Ở Tây Bắc nam và nữ kết hôn sớm như nhau, gần 9% nam và 17% nữ 15-19 tuổi đã từng kết hôn. Đặc biệt là ở Lai Châu, vào tuổi 19 có tới 1/3 nam (34%) và 1/2 nữ (50%) đã từng kết hôn.

MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT
1. Mức sinh

Tỷ suất sinh thô và tổng tỷ suất sinh

Kết quả điều tra cho thấy năm 2003 tỷ suất sinh thô của Việt Nam là 17,5‰. Nhìn chung mức sinh tiếp tục theo xu hướng giảm nhưng có sự dao động lên - xuống khi đã tiệm cận mức sinh thay thế. Xu hướng này sẽ tiếp tục xảy ra trong những năm tới khi mức sinh chưa ổn định (Biểu 4).

Tổng tỷ suất sinh (TFR) có xu hướng tiếp tục giảm tuy có dao động ít trong thời kỳ 2001-2002. Năm 2003 ở Việt Nam, trung bình mỗi phụ nữ 15-49 tuổi có 2,1 con - bằng mức sinh thay thế. Mỗi phụ nữ thành thị có 1,7 con trong khi mỗi phụ nữ nông thôn có 2,3 con. Riêng TFR của Tây Nguyên và Tây Bắc vẫn ở mức cao (3,1 và 2,8).


Biểu 4: Tỷ suất sinh thô (CBR) và tổng tỷ suất sinh (TFR), 2003

 
 
Thời kỳ

nghiên cứu

CBR
(‰)
TFR

(con/phụ nữ)

Tổng điều tra dân số 1/4/1999

4/1998-3/1999
19,9
2,33

Điều tra biến động dân số 1/7/2000

7/1999-6/2000
19,2
-

Điều tra biến động dân số 1/4/2001

4/2000-3/2001
18,6
2,25

Điều tra biến động dân số 1/4/2002

4/2001-3/2002
19,0
2,28

Điều tra biến động dân số 1/4/2003

4/2002-3/2003
17,5
2,10
 
 
 
 
 
 
 
 

Biểu 5: Tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi (IMR) và tỷ suất chết thô (CDR), 2003

 
 
IMR (‰)
CDR (‰)
Cả nước
21
5,8
   - Thành thị
13
4,7
   - Nông thôn
21
6,0
ĐB sông Hồng
15
6,2
Đông Bắc
29
7,0
Tây Bắc
37
7,1
Bắc Trung bộ
22
6,7
DH Nam Trung bộ
17
6,0
Tây Nguyên
29
5,4
Đông Nam bộ
10
5,1
ĐB sông Cửu Long
13
4,9
 
2. Mức chết

Biểu 5 cho thấy năm 2003 tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi (IMR) là 21‰ tỷ suất chết thô (CDR) là 5,8‰. Có sự chệnh lệch đáng kể giữa IMR thành thị và nông thôn: IMR của khu vực nông thôn là 21‰, cao gấp 1,6 lần khu vực thành thị (13‰). Mặc dù IMR của cả nước giảm đáng kể trong những năm gần đây, nhưng mức chết của trẻ dưới 1 tuổi ở ba vùng khó khăn nhất (Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên) vẫn còn cao. Tỷ suất chết thô của cả nước và các vùng gần như không đổi trong các năm qua.

DI CƯ
Di cư giữa các vùng

Trong số 8 vùng, 3 vùng nhập cư thuần từ các vùng khác gồm Đông Bắc, Tây Bắc và Đông Nam bộ; 5 vùng còn lại là xuất cư thuần đi các vùng khác. Duyên hải Nam Trung bộ có tỷ suất xuất cư thuần lớn nhất (3,47‰), tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long (1,77‰). Đông Nam bộ có tỷ suất nhập cư cao nhất (7,37‰) do tốc độ phát triển các khu công nghiệp mạnh và đô thị hoá cao.

Nhìn chung, quy mô di cư (nhập cư và xuất cư) ở Việt Nam có chiều hướng giảm trong những năm gần đây. Quy mô di cư giảm từ 11,02‰ trong 12 tháng trước 4/2001 xuống 7,64‰ trong 12 tháng trước 4/2002 và chỉ còn 5,1‰ trong 12 tháng trước 4/2003. Các vùng xuất cư thuần truyền thống là Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, và Đồng bằng sông Cửu Long. Đông Nam bộ là vùng duy nhất nhập cư truyền thống.


 

Biểu 6: Tỷ suất nhập cư, xuất cư và di cư theo vùng (‰), 12 tháng trước 1/4/2003

 
 
Tỷ suất
nhập cư
Tỷ suất
xuất cư
Tỷ suất di
cư thuần

ĐB sông Hồng

1,48
2,84
-1,36

Đông Bắc

2,14
2,09
0,05

Tây Bắc

1,70
1,47
0,24

Bắc Trung bộ

1,11
2,56
-1,45

DH Nam Trung bộ

1,01
4,48
-3,47

Tây Nguyên

3,39
3,91
-0,52

Đông Nam bộ

8,82
1,45
7,37

ĐB sông Cửu Long

0,56
2,33
-1,77
 
 
 
 
 
 
 
 

Đông Bắc và Tây Bắc vốn là những vùng xuất cư thuần truyền thống trước đây hiện bắt đầu trở thành các vùng nhập cư thuần túy tỷ lệ nhập cư chưa cao. Đồng bằng sông Hồng là vùng không ổn định về di cư. Tây Nguyên trước đây là vùng nhập cư truyền thống, nhưng trong 2 năm gần đây là vùng xuất cư thuần với tỷ lệ thấp.

Di cư giữa các tỉnh/thành phố

Mô hình di cư giữa các tỉnh trong một vùng có sự khác nhau khá rõ. Ở Đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Hải Duơng, Hưng Yên có tỷ suất xuất cư thuần đi các tỉnh cao nhất nước (tương ứng với 6,77, 5,74, 5,6 và 5,87‰, nhưng Hà Nội là một trong những tỉnh có tỷ suất nhập cư thuần cao nhất (12,03‰), chỉ sau TP Hồ Chí Minh (16,74‰). Tại các tỉnh có tỷ suất xuất cư thuần cao (từ 5‰ trở lên), tỷ suất di cư của nữ cao hơn nam. n

THU HƯƠNG

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2003). Điều tra biến động dân số và nguồn lao động 1/4/2002: Những kết quả chủ yếu.