TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN Ở HÀ NỘI

         DS. NGUYỄN THỊ VŨ THÀNH*

         TS. LÊ CỰ LINH**

 

 

Đặt vấn đề

Tình hình thực hiện mục tiêu giảm sinh của cả nước từ sau năm 2000 đến nay đang đứng trước nguy cơ tăng dân số trở lại. Đặc biệt, năm 2003, tỉ lệ dân số đã tăng trở lại với mức tăng là 1,47% (năm 2001: 1,35%, 2002: 1,32%).

Theo Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Nội thì tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại Hà Nội tăng nhanh. Quận Cầu Giấy, một quận mới thành lập được tách ra từ huyện Từ Liêm, trở thành quận nội thành từ tháng 09/1997, có tốc độ đô thị hoá lớn, có những thay đổi nhanh về điều kiện kinh tế. Quận gồm 7 phường, tổng diện tích 1195 ha, dân số 163.600 người, mật độ trung bình là 1.265 người/km2. Trong nhiều năm qua, Cầu Giấy luôn đạt mục tiêu giảm sinh theo kế hoạch đề ra, tỷ suất sinh thô giảm bình quân hàng năm 0,41‰. Năm 2000 quận Cầu Giấy đạt mức sinh thay thế (bình quân 1 bà mẹ có 2,1 con). Chỉ tiêu sinh con thứ 3+ giảm dần từ 2,9% năm 1997 xuống còn 1,69% năm 2002. Riêng năm 2003 tăng đột biến lên 2,77%, cao nhất 7 quận nội thành. Chỉ tiêu sinh con thứ 3+ được giao trong năm 2004 của quận Cầu Giấy là 2,5%. Nhưng trong thực tế  thực hiện 06 tháng đầu năm 2004, tỉ lệ sinh con thứ 3+ lại tiếp tục tăng lên 3,02%, như vậy quận Cầu Giấy xuất hiện xu hướng tăng sinh con thứ 3+.

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả thực trạng sinh con thứ 3+ và sự ảnh hưởng của những yếu tố (đặc trưng cá nhân, tâm lý, kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách, KHHGĐ) đến việc sinh con thứ 3+ ở quận Cầu Giấy giai đoạn  năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2004.

Phương pháp

Nghiên cứu được tiến hành tại quận Cầu Giấy, Thành phố Hà nội, từ tháng 10/2004 đến hết tháng 1/2005. Đối tượng nghiên cứu là tất cả các cặp vợ chồng sinh con thứ 3+ trở lên ở quận Cầu Giấy năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2004. Có 65 người chồng và 68 người vợ được phỏng vấn.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính, bộ câu hỏi có cấu trúc, kỹ thuật thu thập số liệu định tính có hệ thống và phỏng vấn sâu một số yếu tố liên quan bằng một số câu hỏi mở.

Số liệu nghiên cứu định lượng được nhập bằng phần mềm EpiInfo 2002 và phân tích bằng SPSS 12.0, sử dụng phương pháp thống kê đơn biến và đa biến.

Kết quả và bàn luận

1. Thông tin chung và tình hình sinh đẻ

Trong tổng số 70 cặp vợ chồng được nghiên cứu, 40% người chồng tuổi từ 40-44, 25,7% tuổi từ 35-39, 15,7% tuổi từ 45-49; 32,9% người vợ có độ tuổi từ 35-39, 24,3% tuổi từ 30-34,  24,3% tuổi từ 40-44.

Độ tuổi kết hôn: 42,9%  người chồng kết hôn trong độ tuổi từ 25-29, 28,6% tuổi từ 30-34, 17,1% tuổi từ 20-24; 58,6% người vợ kết hôn trong độ tuổi từ 20-24, 24,3% tuổi từ 25-29. Có 2,9% người chồng và 15,7% người vợ là kết hôn trước tuổi 20.

Một tỷ lệ lớn người chồng có trình độ học vấn ở mức trung học cơ sở (38,6%), 27,1% có trình độ trung học phổ thông, 27,1% là trung học chuyên nghiệp/cao đẳng hoặc đại học (THCN, CĐ, ĐH). Trình độ học vấn của 38,6% người vợ là trung học cơ sở, 38,6% là trung học phổ thông, 21,4% là THCN, CĐ, ĐH. Có 2,9% người chồng và không có người vợ nào có trình độ học vấn trên ĐH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng sinh con thứ 3+ tại quận Cầu Giấy năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2004 nằm trong 2 thái cực đối lập về trình độ học vấn: phần đông là trình độ học vấn thấp, hiểu biết về SKSS, KHHGĐ và những vấn đề xã hội rất có hạn; phần còn lại là những người trí thức, có hiểu biết nhưng vẫn muốn sinh thêm con thứ 3+.

Nghề nghiệp chủ yếu của những người chồng là buôn bán (42,9%), 27,1% là cán bộ công nhân viên chức nhà nước (CBCNVCNN), 10% thất nghiệp và 6% làm nông nghiệp. Có tới 40% người vợ ở nhà làm nội trợ, 32,9% buôn bán, 17,1% là CBCNVCNN và 10% làm nông nghiệp. Trong đó, có tổng số 34,3% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là CBCNVCNN; 18,6% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là Đảng viên. Tương tự như nhận định khi tổng kết công tác dân số ở Hà Nội và các tỉnh thành khác, hiện nay tại địa bàn quận Cầu Giấy một bộ phận CBCNVCNN và Đảng viên cũng sinh con thứ 3.

Có 64 hộ gia đình có 3 con (chiếm 91,4%), trong đó hiện có 2 người vợ đang có bầu con thứ tư gần tới tháng sinh. Có 5 cặp vợ chồng có 4 con (chiếm 7,1%) và chỉ có duy nhất 1 hộ gia đình có 5 con (chiếm 1,4%). So sánh với kết quả của các nghiên cứu khác thực hiện ở các vùng nông thôn trước đây, số con hiện có của đối tượng nghiên cứu thấp hơn, điều này cũng minh chứng phần nào khi bàn luận về số con mong muốn của đối tượng nghiên cứu thường chỉ là 3-4 con.

Độ tuổi của người mẹ khi sinh con đầu trong khoảng 20-24 là 55,7% và trong khoảng 25-29 là 37,1%. Chỉ có 5,7% bà mẹ ở độ tuổi 15-19 tuổi và 1,4% ở tuổi 30-34 khi sinh con lần đầu. Sức khỏe của hai con đầu của 68 hộ gia đình (chiếm 97,1%) đều bình thường, chỉ có 2 gia đình (chiếm 2,9%) là có một con có sức khoẻ không tốt.

Trước lần sinh con thứ 3+ này, có 42 hộ gia đình (chiếm 60%) có con một bề là gái, 9 hộ gia đình (chiếm 12,9%) có con một bề là trai. Đặc biệt là có 19 hộ gia đình (chiếm 27,1%) là đã có cả con trai và con gái. Kết quả này cho thấy, việc tuyên truyền vận động về công tác dân số bao giờ cũng phải lưu ý những gia đình không có con trai. Tuy vậy, khả năng sinh con thứ 3+  còn tiềm ẩn ngay cả trong những gia đình có toàn con trai và cả những hộ gia đình đã có đủ cả trai và gái.

Có 118 khoảng cách sinh giữa các đứa con của 70 cặp vợ chồng trong nghiên cứu. Có 32 khoảng cách sinh (chiếm 27,1%) là dưới 3 năm, 66 trường hợp từ 3-5 năm (55,9%), và 20 trường hợp đã trên 5 năm (17%). Tất cả các hộ gia đình trong nghiên cứu đều có kinh tế khá.

2. Những yếu tố liên quan tới việc sinh con thứ 3 trở lên theo đánh giá riêng của vợ và chồng

Có 47 người chồng (72,3%) và 39 người vợ (57,4%) thừa nhận họ thực sự mong muốn sinh con thứ 3+. Bên cạnh đó, 18 người chồng (27,7%) và 29 người vợ (42,6%) cho rằng trường hợp sinh con thứ 3+ vừa rồi là ngoài ý muốn. Để so sánh tính đồng nhất, chúng tôi tính được chỉ số Kappa = 0,425 (p<0,001). Như vậy là có sự đồng nhất tương đối giữa vợ và chồng về ý muốn sinh con thứ 3+. Tuy nhiên, tỷ lệ những người chồng có mong muốn đó cao hơn so với những người vợ.

Từ bảng 1 cho thấy lý do hàng đầu mà các cặp vợ chồng đưa ra là “muốn có thêm con để có nếp có tẻ” lý do số 2. Tiếp đó là lý do 1 (muốn có con trai) và lý do 3 (muốn có nhiều con). Có một số sự khác biệt giữa những lý do sinh con thứ 3+ của vợ và chồng: với lý do 9 (kinh tế) thì có tới 23,1% người chồng đưa ra nhưng chỉ có 14,7% ở người vợ, với lý do 15 (Pháp lệnh Dân số) thì chỉ có 10,8% người chồng đề cập nhưng có tới 19,1% người vợ đưa ra lý do này. Đáng lưu ý là có một tỉ lệ khá cao những người vợ cũng như những người chồng đưa ra lý do 11 và 12 (có thai ngoài ý muốn do không dùng hoặc thất bại trong sử dụng BPTT), đó là những yếu tố liên quan tới công tác tuyên truyền, tư vấn, và phần nào là chất lượng dịch vụ KHHGĐ.

Trong số 9 người chồng và 14 người vợ đưa ra lý do là không dùng biện pháp tránh thai nên có thai ngoài ý muốn thì nguyên nhân chính là do người vợ không thích dùng, do mới tháo vòng hay do sợ ảnh hưởng tới sức khoẻ.

 

 

Bảng 1: Lý do chính sinh con thứ 3+

 

Lý do

Vợ

Chồng

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

1. Muốn có con trai để nối dõi

14

20,6

19

29,2

2. Muốn có thêm con để “có nếp có tẻ”

24

35,3

24

36,9

3. Muốn có nhiều con

19

27,9

13

20,0

4. Tình trạng sức khoẻ của ít nhất 1 trong các con đã có không tốt

1

1,5

1

1,5

5. Người chồng là con trưởng, trưởng tộc hoặc con duy nhất.

5

7,4

3

4,6

6. Chọn năm đẹp để sinh con theo quan niệm dân gian

4

5,9

2

3,1

7. Muốn sinh con vào năm hợp tuổi cha mẹ (để gia đình khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt).

0

0

0

0

8. Coi việc sinh đẻ là tự nhiên

4

5,9

2

3,1

9. Kinh tế gia đình khá giả

10

14,7

15

23,1

10. áp lực từ gia đình, bạn bè, xã hội

8

11,8

5

7,7

11.Không dùng biện pháp tránh thai (BPTT) nào nên có thai ngoài ý muốn

14

20,6

9

13,8

12. Có áp dụng BPTT nhưng thất bại

15

22,1

6

9,2

13. Coi việc nạo hút thai là sát sinh

8

11,8

4

6,2

14. Sợ nạo hút thai ảnh hưởng đến sức khoẻ

9

13,2

3

4,6

15. Chính phủ ban hành Pháp lệnh dân số

13

19,1

7

10,8

16. Muốn có ba con

11

16,2

10

15,4

17. Do vợ chủ ý muốn sinh con nên dấu không cho chồng biết

0

0

0

0

18. Không nạo hút thai vì nhân đạo và trách nhiệm

4

5,9

1

1,5

19. Do vợ thuyết phục sinh thêm con

0

0

5

7,7

20. Không phá thai vì thai quá lớn

1

1,5

1

1,5

 

 

 

 

 

Trong số 15 người vợ và 6 người chồng đưa ra lý do có áp dụng BPTT nhưng thất bại dẫn tới có thai ngoài ý muốn thì: 4 người chồng và 8 người vợ nói rằng họ đã áp dụng BPTT truyền thống. Còn lại là áp dụng những BPTT hiện đại mà vẫn có thai như đặt vòng, bao cao su, thuốc tránh thai, đình sản nữ. Với các biện pháp này thì lý do thất bại đưa ra là: không được hướng dẫn (1 người vợ), được hướng dẫn nhưng không sử dụng đúng cách (1 người vợ, 1 người chồng), chất lượng các phương tiện tránh thai kém (2 người vợ).

Bảng 2: Những lý do sinh con thứ 3+ được coi là quan trọng nhất:

 

Lý do

Vợ

Chồng

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

Muốn có con trai để nối dõi

9

13,2

14

21,5

Muốn có thêm con để “có nếp có tẻ”

9

13,2

9

13,8

Muốn có nhiều con

8

11,8

9

13,8

Áp lực từ gia đình, bạn bè, xã hội

4

5,9

5

7,7

Không dùng BPTT nào nên có thai ngoài ý muốn

11

16,2

6

9,2

Có áp dụng BPTT nhưng thất bại

14

20,6

7

10,8

 

 

 

 

 

Sáu nguyên nhân nêu trên là những lý do quan trọng được nhắc tới đầu tiên nhiều nhất ở cả vợ và chồng, cho dù có khác nhau về tỉ lệ cao thấp ở hai nhóm đối tượng. Ba lý do muốn có con trai để nối dõi, muốn có thêm con để “có nếp có tẻ”, muốn có nhiều con chiếm tỉ lệ cao nhất ở những người chồng. Điều này chứng tỏ, những người chồng vẫn còn tư tưởng và quan niệm cần con trai hơn những người vợ. Trong khi đó, lý do không dùng BPTT nào nên có thai ngoài ý muốn, có áp dụng BPTT nhưng thất bại (chủ yếu là những BPTT truyền thống) lại chiếm tỉ lệ  cao nhất ở những người vợ. Như vậy, ngoài những nguyện vọng sinh con thường thấy ở những người dân, việc thực hiện KHHGĐ một cách có hiệu quả vẫn còn là vấn đề đáng lưu tâm.

3. Kết quả phỏng vấn  sâu

Trong số 19 người vợ và 13 người chồng có đưa ra lý do họ sinh con thứ 3+ là  muốn có nhiều con, có tới 6 người vợ và 3 người chồng nói rằng: “Muốn có nhiều con cho vui cửa, vui nhà.”. Có 4 người vợ và 3 người chồng tỏ rõ kỳ vọng được “trông cậy vào con cái lúc ốm đau, khi tuổi già”. Ngoài ra, họ muốn con họ có đông anh chị em để có thể nương dựa vào nhau khi cần. Điều này còn mang nặng tư tưởng “nhiều con, nhiều lộc”, “đông con là nhà có phúc”… Các cặp vợ chồng thường gắn liền ý nguyện sinh nhiều con với điều kiện kinh tế khá giả của họ. Đặc biệt, với các gia đình mà hai bên nội ngoại đều ít con thì ý muốn sinh nhiều con được họ cho là lẽ đương nhiên. Có một số ý kiến còn cho rằng họ muốn có nhiều con vì muốn duy trì ý thức trách nhiệm của mình với gia đình, duy trì văn hoá Phương Đông… Cũng có những quan niệm cho rằng với những gia đình ít con, đặc biệt là một con thì tính trách nhiệm và tính cộng đồng của các con sẽ thấp hơn, đứa con được chăm sóc đùm bọc quá sẽ giảm tính tự lập, kém quan tâm đến người khác, giảm tính cộng đồng và trách nhiệm với mọi người, nó thường có xu hướng ích kỷ chỉ nghĩ tới bản thân mình. Bên cạnh nhưng lý do trên một tâm lý cũng đáng lưu tâm là các cặp vợ chồng đều bày tỏ tâm lý e ngại, sợ có thể chẳng may bị mất con vì lý do nào đó. Nhiều người cho rằng vì nhiều lý do, 2 con là ít, không ai đảm bảo chắc chắn chúng lớn lên đến tuổi trưởng thành, lấy vợ lấy chồng và mỗi đứa lại sinh được 2 đứa con thay thế… Chúng tôi nhận thấy rõ ràng nỗi băn khoăn, e ngại đó của các cặp vợ chồng mặc dù họ không nói thẳng ra mà chỉ kể nhưng câu truyện đau lòng về những gia đình bị hứng chịu những rủi ro của xã hội hiện đại như nghiện ngập, tai nạn và những bệnh nan y…

Một số người cho rằng Pháp lệnh Dân số (PLDS) khuyến khích các gia đình sinh thêm con. Quan niệm sai lầm này tồn tại ở cả Đảng viên, cán bộ công nhân viên nhà nước cũng như những người làm nghề tự do buôn bán. Họ cho rằng PLDS tạo cho họ một tâm lý thoải mái hơn hay coi việc sinh con thứ 3+ là chuyện bình thường, đương nhiên được chấp nhận trong xã hội. Với Đảng viên, cán bộ công nhân viên nhà nước; một số người hiểu đúng tinh thần và ý nghĩa của PLDS nhưng vẫn lợi dụng để sinh con thứ 3+. Một số người vợ, người chồng thì khi sinh con rồi mới hiểu rằng PLDS vẫn quy định mỗi cặp vợ chồng có nghĩa vụ xây dựng quy mô gia đình ít con là 1-2 con. Gần đây, sau tổng kết công tác dân số 9 tháng đầu năm, PLDS đã được tuyên truyền một cách kỹ càng, thấu đáo hơn. Các cấp, các ngành, các cơ quan Đoàn thể mới thật sự quan tâm, nhất là về công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần rất lớn vào việc giúp người dân hiều rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực dân số.

Kết luận và khuyến nghị

Tất cả các hộ gia đình thuộc đối tượng nghiên cứu đều có kinh tế khá, 34,3% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai là cán bộ công nhân viên nhà nước; 18,6% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai là Đảng viên, hơn 1/4 hộ gia đình đã có cả con trai và con gái vẫn sinh con thứ 3+.  Đó là những đối tượng cần lưu ý hơn để thực hiện truyền thông về công tác giảm sinh.

Một tỉ lệ lớn con thứ 3+ được sinh ra do mang thai ngoài ý muốn. Vì vậy, vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh công tác vận động, tư vấn và nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ qua đó nâng cao nhận thức và thực hành sinh sản của người dân từ việc lựa chọn, áp dụng các BPTT hiện đại thay thế các BPTT truyền thống để góp phần giảm tỉ lệ có thai ngoài ý muốn.

Những người chồng đưa ra các lí do sinh con thứ 3+ thuộc về nhận thức tâm lý nhiều hơn những người vợ. Đặc biệt, những lý do hàng đầu sinh con thứ ba trở lên vẫn là: muốn có con trai để nối dõi, muốn có nếp có tẻ và muốn có nhiều con. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng chỉ ra một số mối tương quan đáng lưu ý: giữa kinh tế gia đình khá giả với việc muốn sinh thêm con, giữa việc người chồng là con trưởng và những sức ép tâm lý từ xã hội và gia đình cần có con trai để nối dõi, giữa việc nhà nước đưa ra PLDS và việc muốn có thêm con, hay muốn có con trai để nối dõi. Điều này cho thấy cần tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức cộng đồng, đặc biệt là ở nam giới về thực hiện bình đẳng giới để loại bỏ dần tư tưởng trọng nam khinh nữ hay sự nhất thiết cần phải có con trai để nối dõi tông đường.

Nghiên cứu cũng cho thấy một bộ phận các cặp vợ chồng đã hiểu sai, hoặc cố ý làm sai PLDS. Do vậy, những văn bản, nghị định hướng dẫn thi hành luật cần phải rõ ràng, kịp thời, đồng bộ. Chúng ta vẫn cần quán triệt nội dung một cách thống nhất từ trên xuống dưới, từ Trung ương, các cấp chính quyền, các cơ quan đoàn thể đến các cá nhân. và tiếp tục tích cực tuyên truyền vận động để từng công dân trong địa bàn hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định trong PLDS  và tinh thần Nghị định số 104/2003/ NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 10/9/2003 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số.<



** Bộ môn Dân số - Trường Đại học Y tế Công cộng

* Học viên cao học- Trường Đại học Y tế Công cộng