KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ/KHHGĐ

TRONG 3 NĂM 2001 - 2003 CỦA HÀ TÂY

BS NGUYỄN HỮU CƯỜNG*

 

 

*Để đánh giá tình hình biến động dân số - kế hoạch hoá gia đình của tỉnh Hà Tây trong 3 năm 2001 - 2003. Tháng 5/2004 Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em Tỉnh Hà Tây tổ chức nghiên cứu đánh giá một số chỉ tiêu về dân số - KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản trên địa bàn tỉnh.

I. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đánh giá

Đối tượng

Đối tượng là toàn bộ nhân khẩu trong hộ và các sự kiện biến động dân số xảy ra trong 3 năm 2001 - 2003 được lưu trữ trong sổ sách của ban chỉ đạo dân số, trạm y tế xã và tư pháp.

Địa điểm và đơn vị đánh giá

Đánh giá được tiến hành tại 29 xã phường, thị trấn được chọn ngẫu nhiên thuộc 8 huyện, thị xã trong toàn tỉnh.

Đơn vị đánh giá là xã, phường, người cung cấp thông tin gồm: cán bộ chuyên trách dân số xã, cán bộ trạm y tế xã, các ngành đoàn thể xã.

Phương pháp đánh giá

Thu thập số liệu trong sổ sách ghi chép của cán bộ chuyên trách dân số, trạm y tế xã và cán bộ tư pháp của xã.

II. Kết quả đánh giá

1. Mức sinh

Tỷ suất sinh thô: Số liệu thu thập trong 3 năm được thể hiện trong bảng 1 dưới đây:

Bảng 1: Tỷ suất sinh thô (CBR) 2001 – 2003

Năm

Thành thị (‰)

Nông thôn  (‰)

Chung  (‰)

2001

11,8

16,0

14,7

2002

12,8

15,2

14,5

2003

14,5

16,1

16,3

Bình quân 3 năm

13,1

16,1

15,2

      

Số liệu ở bảng 1 cho thấy tỷ suất sinh thô của Hà Tây, bình quân chung trong 3 năm là 15,2 ‰. Năm 2001 là 14,7 ‰, năm 2003 CBR có xu hướng tăng lên là 16,3 ‰. Điều này cũng phù hợp với số báo cáo thường xuyên của cơ sở và diễn biến về mức sinh chung của cả nước. CBR của cả khu vực thành thị và nông thông đều có xu hướng tăng.

Nếu so sánh CBR của Hà Tây bình quân chung 3 năm với khu vực các tỉnh đồng bằng sông Hồng và cả nước năm 2002 cho thấy CBR của Hà Tây đều thấp hơn.

Tỷ suất sinh đặc trưng và tổng tỷ suất sinh

Bảng 2: Tỷ suất đặc trưng (ASFR) và tổng tỷ suất sinh (TFR)

Năm

ASFR theo nhóm tuổi ( ‰)

TFR

15-19

20-24

25-29

30-34

35-39

40-44

45-49

 

Chung

2001

8,5

127,6

125,8

70,7

24,6

7,7

2,7

1,84

2002

9,8

124,4

135,8

68,9

23,3

7,6

1,7

1,86

2003

9,0

143,0

140,1

77,7

24,5

8,9

2,6

2,03

Trung bình

9,1

128,3

134,0

72,5

24,1

8,1

2,3

1,89

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Số liệu ở bảng 2 cho thấy tỷ suất đặc trưng theo nhóm tuổi (ASFR) và tổng tỷ suất sinh của tỉnh Hà Tây đều tăng dần.

Nhìn chung ASFR theo nhóm tuổi và TFR từ năm 2001 đên năm 2003 tăng. ASFR tăng cao nhất ở nhóm tuổi 20-24 và nhóm tuổi 25-29, đáng lưu ý là ASFR ở nhóm tuổi 15-19 năm 2001 là 8,5‰ đến năm 2003 tăng 9‰. Ở khu vực thành thị nhóm tuổi 35-39 ASFR chỉ là 13,9‰ đến năm 2003 tăng lên 2003 tăng lên là 22‰.

Có sự khác biệt rõ nét về TFR giữa thành thị và nông thôn, TFR của khu vực thành thị là 1,79 con trong khi đó ở khu vực nông thôn là 1,94 con. Nếu so sánh với kết quả điểu tra biến động dân số năm 2002 của cả nước thì thấy TFR ở khu vực thành thị và nông thôn ở Hà Tây đều thấp hơn, Bảng 2 cho thấy tổng tỷ suất sinh của Hà Tây trong cuộc điểu tra đánh giá ở 29 xã, phường của 3 năm là 1,89 con, nếu so với những năm trước, TFR đã tăng tương. TFR của năm 2001 là 1,84 con, đến năm 2002, TFR đã tăng lên 1,86 con và đến năm 2003, TFR tăng cao hơn là 2,03 con.

Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

Bảng 3: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 2001- 2003

Năm

Thành thị (%)

Nông thôn  (%)

Chung  (%)

2001

4,6

16,8

13,6

2002

4,2

14,1

11,2

2003

4,5

14,4

11,6

Bình quân 3 năm

4,4

15,1

12,1

Trong bảng 3, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên năm 2002 so với năm 2001 có giảm nhưng so sánh năm 2003 với năm 2002 thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên lại tăng.

Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở khu vực thành thị rất thấp (4,4%) trong khi đó ở khu vực nông thôn tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên lại rất cao (15,1%).

So sánh kết quả điều tra đánh giá của Hà Tây với kết quả điều tra biến động DS-KHHGĐ của cả nước năm 2002, cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở Hà Tây thấp hơn nhiều so với khu vực Đồng bằng Sông Hồng và cả nước.

Một số đặc điểm của trẻ khi sinh

Số trẻ sinh ra theo các tháng trong năm

Bảng 4: Số trẻ sinh ra theo các tháng trong năm

Năm

Tháng trong năm

Cộng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

2001

333

272

242

234

249

251

255

281

328

342

339

289

3415

2002

289

234

231

228

240

245

287

313

324

354

397

335

3477

2003

331

269

256

235

272

289

329

365

362

436

456

386

3986

Cộng

953

775

729

697

761

785

871

959

1014

1132

1192

1010

10878

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảng 4 cho thấy số trẻ sinh ra từ năm 2001 đến năm 2003 ngày càng tăng, nếu so sánh số trẻ sinh ra năm 2003 với năm 2001 thì số trẻ ra tăng lên là 571 cháu. Số trẻ sinh ra trong các năm đều sinh cao vào các tháng 1, tháng 10, tháng 11 và tháng 12. Như vậy số trẻ sinh ra trong quý IV chiếm khoảng 1/3 số trẻ sinh ra trong năm. 3 quý còn lại số trẻ em sinh ra chiếm 2/3 tổng số sinh ra trong năm.

Số trẻ sinh ra có trọng lượng dưới 2500 gram

Trẻ em khi sinh ra có trọng lượng dưới 2500 g có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là trong quá trình thai người mẹ không được ăn uống, chăm sóc và nghỉ ngơi đầy đủ.

Tỷ lệ trẻ em khi sinh có cân nặng < 2500g cũng có sự khác nhau ở các khu vực: ở thành thị là 2,5%, ở khu vực nông thôn tỷ lệ này là 4,2%.

Tỷ lệ trẻ em gái sinh ra có cân nặng <2500g là 4,0%, ở trẻ em nam là 3,4%. Như vậy trẻ em gái khi sinh ra bị nhẹ cân có tỷ lệ cao hơn trẻ em nam khi sinh ra.

 Giới tính khi sinh

Thông thường cứ 105- 106 trẻ em nam sinh ra thì có 100 trẻ em nữ sinh ra. Đây là một tỷ số tự nhiên đảm bảo cho sự cân bằng về giới cho một quần thể dân cư.

Do tư tưởng trọng nam kinh nữ, do sức ép của chương trình KHHGĐ, trong những năm gần đây đã xuất hiện sự điểu chỉnh, lựa chọn giới tính ở một số khu vực, quố gia. ở nước ta kết quả tổng điểu tra DS và nhà ở năm 1999, đã có cảnh báo về tình trạng mất cân bằng về giới tính khi sinh ở một số tỉnh của nước ta, trong đó có Hà Tây.

Bảng 6: Số trẻ em sinh ra theo giới tính

 

Năm

Thành thị

Nông thôn

Chung

Nam

Nữ

Tỷ số giới tính

Nam

Nữ

Tỷ số giới tính

Nam

Nữ

Tỷ số giới tính

2001

455

433

105,0

1326

1211

109,5

1781

1644

108,3

2002

531

455

116,7

1276

1218

104,8

1807

1673

108,0

2003

563

541

104,1

1515

1354

111,9

2078

1895

109,7

Chung

1549

1429

108,4

4117

3783

108,8

5666

5212

108,7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Để nghiên cứu vấn đề này, trong khi thu thập số liệu, chúng tôi đã tiến hành tổng hợp và phân tích số giới tính khi sinh ở các xã nghiên cứu.

Kết quả điều tra cho thấy tỷ số giới khi sinh là 108,7%, có nghĩa là cứ 108,7 trẻ em nam được sinh ra thì có 100 trẻ em nữ sinh ra. Tỷ lệ này thấp hơn tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 của cả nước. Điều này cho thấy chưa có sự điều chỉnh chủ động sinh con theo giới tính ở địa bàn điều tra nghiên cứu.

2. Kết hôn, ly hôn

Kết hôn

Bảng 7: Số cặp kết hôn, 2001-2003

Năm

Thành thị

Nông thôn 

Chung 

2001

81

1.059

1.542

2002

93

1.161

1.721

2003

102

1.158

1.772

Bình quân 3 năm

276

3.378

5.035

 

Trong 29 địa bàn điều tra có 5.035 cặp kết hôn, số liệu ở bảng trên cho thấy số cặp kết hôn tăng dần qua các năm: năm 2001 là 1.542, năm 2002 là 1.721, năm 2003 là 1.772. Số cặp kết hôn ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị nhiều, ở nông thôn trong 3 năm số cặp kết hôn là 3.378, trong khi ở khu vực thành thị chỉ có 276 cặp.

Số liệu ở bảng 8 cho thấy số cặp vợ chồng kết hôn ở tuổi dưới 18 (của cặp) là 0,6%, chồng kết hôn ở tuổi dưới 19 là 1%.

Khu vực thành thị có 0,5% phụ nữ kết hôn ở tuổi < 18 và 2,1% là nam giới kết hôn khi < 19 tuổi, ở khu vực nông thôn có 0,7% phụ nữ kết hôn < 18 tuổi và 0,6% nam giới kết hôn <19 tuổi.

Như vậy tỷ lệ tuổi vi phạm luật hôn nhân và gia đình ở khu vực thành thị cao hơn ở nông thôn.

Căn cứ số liệu trên chúng tôi thấy rằng, nếu tính trung bình cả khu vực thành thị và nông thôn thì số cặp vợ chồng kết hôn vi phạm luật hôn nhân đều có tỷ lệ thấp ( vợ là 0,6%, của chồng là 1,0%). Nhìn chung về số tuổi kết hôn trung bình của các cặp vợ chồng là tốt so với tuổi khuyến khích của chương trình Dân số - KHHGĐ.

Bảng 8: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của các cặp vợ chồng 2001 - 2003

Năm và theo khu vực

Vợ

Chồng

<18 tuổi (%)

>18 tuổi (%)

Tuổi

trung bình

< 19 tuổi (%)

>18 tuổi

(%)

Tuổi

trung bình

 

Chung

2001

0,7

99,3

21,1

1,1

98,9

23,5

2002

0,8

99,2

21,8

0,8

99,2

23,7

2003

0,4

99,6

21,5

1,2

98,8

24,2

Trung bình

0,6

99,4

21,3

1,0

99,0

23,8

 

 

 

 

 

 

 

 

Số tuổi trung bình của nữ khi kết hôn lần đầu là 21,3 tuổi, của nam là 23,8 tuổi. Độ tuổi kết hôn trung bình của cả nam và nữ ở khu vực thành thị đều cao hơn so với khu vực nông thôn.

Độ tuổi kết hôn trung bình của nam và nữ đều có xu hướng tăng lên từng năm (của nữ năm 2001 là 21,1 đến năm 2003 là 21,5, đối với nam năm 2001 là 23,5, đến năm 2003 tăng lên là 24,2 tuổi).

Ly hôn

Bảng 9: Số cặp vợ chồng ly hôn, 2001 – 2003

Năm

Số cặp ly hôn

Thành thị

Nông thôn

Chung

2001

5

39

44

2002

4

55

59

2003

4

49

53

Chung

13

143

156

 

 

 

 

Số cặp vợ chồng ly hôn ở 29 xã phường điều tra nghiên cứư là 156 cặp. Trong đó ở thành thị là 13 cặp, ở nông thôn là 143 cặp gấp 10 lần khu vực thành thị.

Nguyên nhân dẫn tới ly hôn là:

- Do không hợp tính nết 96 cặp = 61,5%

- Do chồng ngoại tình có 22 cặp = 14,1%

- Do xa cách lâu ngày có 14 cặp = 8,9%

- Do chồng đánh đập ngược đãi vợ có 14 cặp = 8,9%

- Do vợ ngoại tình có 9 cặp = 5,7%

- Do vợ thành đạt hơn chồng có 1 cặp = 0,6%

3. Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai

Tỷ lệ sử dụng các BPTT

Số liệu ở bảng 10 cho thấy biện pháp sử dụng rộng rãi và có tỷ lệ cao nhất là dụng cụ tử cung chiếm tới 68% tổng số người sử dụng các BPTT; Số phụ nữ dùng thuốc uống, tiêm tránh thai chiếm 12,3%; Số người dùng bao cao su chiếm 12,5%; Số người dùng biện pháp đình sản chiếm 4%; Số người dùng các biện pháp khác chiếm 3,2%.

Tỷ lệ sử dụng các BPTT giữa các khu vực cũng có sự khác nhau: ở thành thị tỷ lệ đình sản

Bảng 10: Cơ cấu sử dụng các BPTT, 2001- 2003 (%)

 

Năm

Các biện pháp tránh thai

Đình sản

Dụng cụ tử cung

Thuốc uống

Bao cao su

Biện pháp khác

Cộng

Chung

2001

4,1

69,2

11,4

12,2

3,1

100

2002

4,0

67,8

12,4

12,7

3,1

100

2003

3,9

67,1

12,9

12,7

3,4

100

Chung

4,0

68,0

12,3

12,5

3,2

100

 

 

 

 

 

 

 

 

cao hơn ở nông thôn (3,1% so với 1,4%). Tỷ lệ sử dụng dụng cụ tử cung (DCTC) ở thành thị thấp hơn ở nông thông (68,7% so với 69,8%).

Qua điểu tra nghiên cứu chúng tôi thấy biện pháp đình sản, DCTC đang có xu hướng giảm dần, trong khi đó biện pháp uóng, tiêm tránh thai và dùng bao cao su đang có tỷ lệ tăng dần (thuốc tránh thai năm 2001 là 11,4%, đến năm 2003 là 12,9%, bao cao su tránh thai năm 2001 là 12,2% năm 2003 là 12,7%).

Bảng 11: Tỷ lệ sử dụng các BPTT theo số con hiện có, 2003

Số con

 

Đình sản (%)

Dụng cụ tử cung (%)

Thuốc (%)

Bao su (%)

Biện pháp khác (%)

Cộng (%)

0

0,0

0,0

17,9

35,7

46,4

100

1

0,3

65,1

12,9

16,3

5,4

100

2

2,5

65,5

14,2

14,0

3,8

100

3

3,9

64,9

11,6

14,2

5,4

100

>3

4,3

59,2

10,1

16,5

9,9

100

 

 

 

 

 

 

 

Số liệu bảng 11 cho thấy số phụ nữ  có một con trở lên sử dụng BPTT là DCTC chiếm tỷ lệ cao nhất. Riêng khu vực nông thôn phụ nữ có 1 con sử dụng BPTT bằng DCTC chiếm tỷ lệ tới 71,2%.

Số người sử dụng bao cao su tránh thai có tỷ lệ cao ở người chưa có con (35,7%) người có từ trên 3 con sử dụng bao su có tỷ lệ 16,5%.

Những người chưa có con sử dụng BPTT cũng có tỷ lệ khá cao ở các biện pháp như: Biện pháp khác 46,4%, thuốc tránh thai 17,9%.

4. Làm mẹ an toàn

Chăm sóc trước khi sinh

Ở các địa bàn điều tra đánh giá, trung bình một phụ nữ khi mang thai đi khám thai là 3,1 lần. Tỷ lệ phụ nữ đi khám thai đủ 3 lần trong thời kỳ mang thai đạt 91,0%. Tỷ lệ phụ nữ tiêm phòng uốn ván (TPUV) đủ 2 mũi đạt 93,7%. ở  khu vực thành thị số lần khám thai trung bình đạt 3,4 lần, ở khu vực nông thôn là 3,0 lần.

Tỷ lệ khám thai đủ 3 lần ở thành thị là 99,0%, ở nông thôn là 88,9%. Tỷ lệ phụ nữ mang thai tiêm phòng uốn ván ngày càng tăng, năm 2001 là 91,3% đến năm 2003 tăng lên là 95,9%. ở khu vực thành thị phụ nữ mang thai tiêm phòng uốn ván năm 2003 có tỷ lệ cáo tới 98,6%, ở khu vực nông thôn là 92,5%.

Bảng 12: Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc khi mang thai

Năm

Thành thị

Nông thôn

Chung

Số lần KTTB

Khám đủ 3 lần

TPUV

Số lần KTTB

Khám đủ 3 lần

TPUV

Số lần KTTB

Khám đủ 3 lần

TPUV

2001

3,2

99,3

96,7

2,8

85,6

89,9

2,9

88,4

91,3

2002

3,5

99,5

99,5

3,0

89,0

92,2

3,1

91,2

93,7

2003

3,4

98,2

98,7

3,1

92,3

95,2

3,1

93,3

95,9

T/bình

3,4

99,0

98,6

3,0

88,9

92,5

3,1

91,0

93,7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nơi sinh

Ở khu vực thành thị, phụ nữ chon nơi sinh là tuyến trên (trung tâm y tế huyện, bệnh viện tỉnh và tuyến trung ương) chiếm tỷ lệ cao là 79,3%, sinh tại tạm y tế xã, phường là 20,7%.

Ở khu vực nông thôn phụ nữ chon nơi sinh chủ yếu là trạm y tế xã có tỷ lệ là 61,8%, sinh tại các tuyến trên có tỷ lệ là 37,7%. Vẫn còn 0,6% phụ nữ nông thôn sinh đẻ tại nhà.

Bảng 13: Phân bố nơi sinh của các bà mẹ 2001- 2003

 

Năm

Thành thị

Nông thôn

Chung

Tại nhà

Trạm YT xã

Tuyến trên

Tại nhà

Trạm YT xã

Tuyến trên

Tại nhà

Trạm YT xã

Tuyến trên

2001

0,0

21,7

78,3

0,7

64,7

34,6

0,5

53,7

45,8

2002

0,0

19,8

80,2

0,4

60,9

38,6

0,3

49,4

50,3

2003

0,0

20,6

79,4

0,6

59,9

39,6

0,4

48,9

50,7

T/bình

0,0

20,7

79,3

0,6

61,8

37,7

0,4

50,6

49,0

5. Nạo hút thai

Tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt giảm dần ở cả thành thị và nông thôn. Năm 2001 tỷ lệ phụ nữ nạo hút thai là 1,68% đến năm 2003 giảm xuống còn 1,30%.

Đây là một kết quả tốt, đúng với mục tiêu của chương trình Dân số - KHHGĐ là tăng các BPTT hiện đại và giảm nhanh biện pháp nạo hút thai.

Bảng 14: Tỷ lệ nạo hút thai của phụ nữ

2001 -2003

Năm

Thành thị (%)

Nông thôn  (%)

Chung  (%)

2001

1,72

1,66

1,68

2002

1,67

1,40

1,48

2003

1,14

1,37

1,30

Bình quân 3 năm

1,50

1,47

1,48

III. Kết luận

- Tỷ suất sinh thô có xu hướng tăng ở các xã phường điểu tra đánh giá, năm 2001 tỷ suất sinh là 14,7‰ đến năm 2003 tăng lên là 16,3‰.

- Tổng tỷ suất sinh (TFR) ở các xã điểu tra đánh giá có chiều hướng tăng dần: năm 2001, TFR là 1,84, năm 2002 TFR đã tăng lên 1,86 và đến năm 2003 đã tăng lên là 2,03.

Nguyên nhân của tình hình trên là vẫn còn một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa hiểu biết đầy đủ và đúng nội dung cơ bản của pháp lệnh dân số. Việc tuyên truyền vận động không sinh con thứ 3 ở nhiều địa phương trong tỉnh còn gặp khó khăn và hiệu quả thấp.

- Ở một số địa phương, sụ quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa thường xuyên, thiếu cụ thể, hoặc thoả mãn, chủ quan với những thành tích đã đạt được từ những năm trước dẫn đến sự lơi lỏng trong chỉ đạo, đầu tư…

- Số trẻ em sinh ra trong 3 năm phân bổ không đều các tháng trong năm, nhìn chung sinh nhiều nhất vào các tháng 1, tháng 10, tháng 11 và tháng 12 trong năm.

- Tỷ lệ đẻ con nhẹ cân giảm dần qua các năm, tỷ lệ em gái sinh ra bị nhẹ cân nhiều hơn trẻ em là trai.

- Do tư tưởng trọng nam khinh nữ, nên những năm gần đây đây đã có hiện tượng khám thai, lựa chọn giới tính ở một số địa phương.

- Việc sử dụng các BPTT rất đa dạng, biện pháp DCTC có tỷ lệ sử dụng cao nhất (68%) nhưng đang có xu hướng giảm dần. Điều này cũng đúng với mục tiêu chỉ đạo của công tác dân số - KHHGĐ là đa dạng các BPTT.

IV. Một số kiến nghị

1. Cần quan tâm chỉ đạo công tác DS- KHHGĐ trong tình hình mới theo Chỉ thị số 75-CT/TU ngày 10/1/2005 của Ban thường vụ Tỉnh Hà Tây.

2. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với cơ quan báo, đài phát thanh truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng: tích cực thường xuyên tuyên truyền giáo dục nhằm giúp nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện tốt chính sách dân số - KHHGĐ, Pháp lệnh Dân số, xây dựng gia đình văn hoá.

3. Đẩy mạnh công tác truyền thông kết hợp với cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực công tác dân số- sức khoẻ sinh sản/ KHHGĐ đến cho cộng đồng dân cư, đến tận người dân.

4. Nghiên cứu, xây dựng chính sách cụ thể và tăng cường đầu tư cho công tác dân số, gia đình và trẻ em để nâng cao hiệu quả việc thực hiện các mục tiêu của chương trình.

5. Đẩy mạnh các biện pháp để tiếp tục giảm sinh một cách hợp lý, giữ vững và ổn định mức sinh thay thế, tập trung chỉ đạo nhằm giảm tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên, giảm tỷ suất sinh thô hàng năm, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi. Triển khai thực hiện tốt các dự án nâng cao chất lượng dân số, dân số với phát triển gia đình bền vững.<



* Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Tây

]]>