NÉT ĐẶC THÙ TRONG CÔNG TÁC

DÂN SỐ TỈNH LAI CHÂU

BS. NGUYỄN ĐÌNH BÁCH*

 

 

*Tỉnh Lai Châu vừa được chia tách và thành lập từ 01/01/2004 theo Nghị quyết số 22 kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI. Là tỉnh vùng cao, biên giới nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới Việt - Trung dài 273 km, thông thương với nước bạn qua cửa khẩu quốc gia Ma lù thàng. Lai Châu có rừng phòng hộ đầu nguồn rộng lớn của lưu vực sông Đà. Vị trí địa lý và tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Lai Châu đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia.

Công tác Dân số Lai Châu là một bộ phận trong chương trình mục tiêu Quốc gia, song trong điều kiện của một tỉnh vùng cao, biên giới, đa dân tộc nên có nhiều nét đặc thù riêng. Nếu không có sự phân tích toàn diện và cách tiếp cận riêng sẽ dẫn tới nhận định và đánh giá sai về vị trí, vai trò của công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình của Tỉnh trong giai đoạn hiện nay.

Một trong những mục tiêu quan trọng trong công tác dân số là kiểm soát tỷ lệ sinh nhằm điều chỉnh quy mô dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội. Dân số Lai Châu hiện nay có khoảng 320.000 người, với tổng diện tích đất tự nhiên là 9.065 km2, mật độ dân số 35 người/ km2. Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào con số tuyệt đối thì quy mô dân số Lai Châu không phải là lớn. Hơn nữa, Lai Châu đang trong giai đoạn củng cố và thành lập cá đơn vị hành chính mới như: Thị xã Lai Châu, Thị trấn Phong Thổ, Tam Đường và một số xã khác trong tỉnh. Một trong những tiêu chí còn thiếu trong quá trình triển khai thực hiện là số lượng dân số. Thực tế trên đã nảy sinh nhận thức cho rằng Lai Châu cần phải đẩy nhanh tốc độ gia tăng dân số kể cả biện pháp khuyến khích sinh đẻ. Do vậy, nếu không tập trung chỉ đạo, nhìn nhận toàn diện trong bối cảnh kinh tế-xã hội chung của Tỉnh sẽ dẫn đến hiểu nhầm cho rằng công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình của Lai Châu hiện nay là không cần thiết. Là một tỉnh nông nghiệp, tỷ lệ nông dân chiếm trên 90% dân số nhưng đất để canh tác chỉ chiếm 7% diện tích đất tự nhiên. Trong đó chỉ có 4% diện tích chủ động được về thời vụ, số còn lại phụ thuộc vào thiên nhiên. Do xuất phát điểm thấp nên mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng trong giai đoạn vừa qua song tỷ lệ sinh của Lai Châu hiện nay còn cao nhất toàn quốc (27,2‰), số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 3,6 con. Kinh tế của tỉnh chưa phát triển, sản xuất thủ công, lạc hậu phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất lao động thấp. Đó là những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tỷ lệ hộ đói nghèo của Lai Châu còn rất cao (27%), hiện tượng chặt phá rừng làm nương rẫy còn phức tạp. Để xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống thì công tác dân số - KHHGĐ có vị trí rất quan trọng.

Giữa dân số và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu quy mô và cơ cấu dân số phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển nhưng để có được các điều kiện như vậy rất cần phải đầu tư kinh tế. Theo PGS. TS Nguyễn Đình Cử- Giám đốc Trung tâm Dân số - Đại học kinh tế quốc dân, trình độ phát triển của các tỉnh ở nước ta không đồng đều mà là một hình bậc thang, đỉnh là Hà Nội và đáy là Lai Châu. Qua nghiên cứu mối quan hệ giữa mức sinh và trình độ phát triển của các tỉnh, thành trong toàn quốc cho thấy không có tỉnh nào ở trình độ phát triển thấp mà lại đạt được mức sinh thấp và ngược lại. Thực tế chứng minh ở hầu hết các quốc gia trên thế giới phát triển theo quy luật: Trình độ phát triển cao thì mức sinh thấp hoặc ngược lại.

Trình độ phát triển chung của Lai Châu còn ở mức rất thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 12%, số người có trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng 2,5-3%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn khoảng 40 tỷ/1 năm, đáp ứng được 5-6% nhu cầu chi ngân sách của tỉnh. Thu nhập bình quân đầu người 140 USD/1 năm. Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ còn mỏng và mất cân đối. Đến nay mới có 17/90 trạm y tế xã có khả năng cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại chỗ. Những khó khăn này đã đặt Lai Châu vào tình thế lực bất tòng tâm. Mặc dù Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh thường xuyên quan tâm tới công tác dân số nhưng khả năng đầu tư thường rất hạn hẹp, hạn chế hiệu quả của chương trình.

Dân số Lai châu phân bố rất không đều. Ở các huyện và xã vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới dân cư thưa thớt và phân tán (Mường Tè có mật độ dân số trung bình 8 người/ km2). Nên việc quy hoạch, quản lý, tuyên truyền vận động và hoạch định các kế hoạch, chính sách can thiệp, hỗ trợ rất khó khăn, thường tốn nhiều kinh phí và nhân lực song hiệu quả không cao. Để làm được một tuyến đường, xây dựng một đường điện, một cây cầu hay một trạm thu phát sóng truyền hình đáp ứng cho một cụm dân cư vùng biên giới với vài nghìn hộ dân cũng phải mất hàng chục thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Triển khai chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ cho một xã vùng sâu cần nhân lực và kinh phí gấp 2 lần các xã khác. Một Hội nghị do Trung ương tổ chức tại thủ đô Hà Nội, tỉnh Lai Châu về dự cũng phải mất nhiều thời gian và kinh phí hơn so với các tỉnh bạn. Thế nhưng, một số chính sách hiện nay còn bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế. Ngân sách Nhà nước chi cho quản lý được phân bổ theo quy mô dân số (tính theo đầu người dân). Định mức chi cho các hoạt động trong chương trình mục tiêu quốc gia dân số được triển khai gần giống nhau giữa các tỉnh thành trong toàn quốc, chưa xem xét tới tính đặc thù của mỗi vùng, mỗi địa phương nên rất khó khăn cho những tỉnh nghèo ở vùng cao biên giới như Lai Châu.

Lai Châu có 20 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đặc thù và bản sắc văn hoá riêng. Nhìn chung, các dân tộc Lai Châu đang từng ngày đổi mới, phát triển cùng đất nước song bên cạnh đó cũng còn một số dân tộc chậm phát triển như các dân tộc: La Hủ, Cống, Mảng, Si la… Để triển khai công tác dân số tới các dân tộc này cần có chính sách và biện pháp riêng. Từng bước nâng dần quy mô dân số bằng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp. Kết hợp triển khai đồng bộ các chương trình dự án để đồng bào định canh, định cư. Tăng cường dịch vụ xã hội nhằm chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tạo điều kiện để các dân tộc này được giao lưu với các dân tộc khác. Tuyên truyền, vận động nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng kết hôn giữa những người cùng dân tộc. Mở rộng hệ thống trường học đến các bản làng để trẻ em được đi học, nhân dân tham gia vào các hoạt động xã hội, từng bước phát triển cùng các dân tộc trong tỉnh.

Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều biện pháp thiết thực, hiệu quả. Thường vụ tỉnh uỷ Lai Châu đã kịp thời ban hành Chỉ thị 12-CT/TU ngày 01/12/2004 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em đến năm 2010. Mở Hội nghị toàn tỉnh quán triệt Nghị quyết 47-Nghị quyết của Bộ Chính trị/TW của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, Chỉ thị 49-CT/TW của Ban bí thư về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước đến tất cả các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, các ban xây dựng Đảng, lãnh đạo các huyện, thị trong toàn tỉnh. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu đã có Quyết định số 69/QĐ-Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em phê duyệt kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU của Thường vụ Tỉnh uỷ và giao nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện công tác dân số, gia đình và trẻ em. Những văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước và của tỉnh nêu trên được triển khai sâu rộng đến các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc trong tỉnh sẽ là động lực thúc đẩy công tác dân số của tỉnh Lai Châu giai đoạn hiện nay.

Trước mắt công tác dân số của Lai Châu còn nhiều khó khăn, thách thức song được sự quan tâm, giúp đỡ của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Lai Châu và sự tham gia, ủng hộ của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, chúng ta tin rằng sẽ thu được nhiều thắng lợi góp phần cùng các tỉnh, thành trong toàn quốc hoàn thành các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.<



* Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Lai Châu.

]]>