TIN VẮN

 

Dân số thế giới: già hoá nhanh

 

 

Năm 2050, cứ 3 người ở thế giới phát triển thì có 1 người trên 60 tuổi, và những người trên 80 tuổi sẽ tăng từ 86 triệu người hiện nay lên tới 394 triệu vào năm 2050. Năm 2050 dân số của các nước Nhật bản, Ôxtrâylia, Niu Di lân, các nước châu Âu và Bắc Mỹ sẽ giảm 1 triệu người hàng năm, trong khi đó dân số ở các nước đang phát triển sẽ tăng khoảng 35 triệu trong đó có 22 triệu người ở các nước kém phát triển nhất. Những sự tăng lên này báo trước một số vấn đề khủng hoảng. Hơn 15% dân số của Nhật bản sẽ trên 80 tuổi vào năm 2050. Nhật Bản có tuổi thọ cao nhất, là 81,9 tuổi dự báo sẽ tăng lên 88,3 tuổi cho thời kỳ 2045-2050. Dân số thế giới hiện nay là 6,5 tỷ người, sẽ lên tới 9,1 tỷ vào năm 2050, phần tăng chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát triển. Trong 45 năm tới, tám nước sẽ chiếm hơn nửa dân số tăng thêm là Ấn Độ, Pakixtan, Nigiêria, Cộng hoà dân chủ Công gô, Bănglađéth, Uganđa, Hoa Kỳ, Etiôpia và Trung quốc. Năm 2050 dân số của ấn Độ sẽ vượt dân số của Trung quốc và hai nước chiếm nửa dân số của thế giới. Bốn mươi bốn nước phát triển sẽ có tăng nhẹ về mức sinh, từ 1,56 con/phụ nữ lên 1,84 con/phụ nữ vào năm 2045-2050. Trừ  Anbani, tất cả các nước phát triển sẽ có mức sinh dưới mức thay thế. Ở các nước Nam và Đông Âu, mức sinh thấp hơn 1,3 con. Mức sinh toàn cầu đã giảm từ 5 con/phụ nữ  trong thời gian giữa thế kỷ 20 xuống mức 2,65 con/phụ nữ trong năm nay và sẽ giảm xuống mức 2,05 con/phụ nữ vào năm 2050. Từ nay đến năm 2050, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ gấp ba, lên 1,9 tỷ người. Trong thế giới phát triển, số người trên 60 tuổi cao hơn số trẻ từ 14 tuổi trở xuống. Năm 2050, ở thế giới phát triển cứ 1 đứa trẻ sẽ có hai người già. Tỷ lệ phần trăm dân số ở độ tuổi lao động ở các nước phát triển đã tăng nhẹ, từ 61% năm 1950 lên 63% năm 2005, nhưng  sẽ giảm xuống 52% trong vòng 45 năm tới.

Dân số thế giới tăng, Di cư tăng

 Số dân di cư  trên thế giới đã tăng từ mức 84 triệu người năm 1975 lên tới 175 triệu người vào năm 2000. Dự tính đến năm 2050 sẽ lên tới 230 triệu người. Hàng năm có khoảng 2,3 triệu người ở các nước đang phát triển di cư sang các nước phát triển, chiếm hai phần ba số dân tăng thêm của các nước phương Tây. Về phương diện lịch sử, có nhiều người di cư đã sống ở châu Âu; 56 triệu người, chiếm 7,7% dân số. Tuy nhiên châu á đã thay thế châu Âu và là châu lục xuất cư. ở Bắc Mỹ, người châu Á chiếm 13% dân số và ở Ôxtrâylia là 19,1%. Dân số thế giới tăng ở mức 83 triệu người một năm, trong đó có 82 triệu người sinh ra ở các nước đang phát triển. Có khoảng 100 triệu người di cư là người lao động và gia đình họ. Luồng hàng hoá và dịch vụ tự do đã phá vỡ sự liên kết giữa nền kinh tế và nhà nước. Những người lao động sản xuất trong các hãng sản xuất đang giảm do hoạt động sản xuất đang được máy tính hoá. Số lượng những người phục vụ thực hiện các công việc lặp đi lặp lại đơn giản đang tăng lên. Những người di cư có tay nghề cao được tuyển dụng cho các công việc như quản lý cũng đang tăng lên. Công nhân lao động theo mùa vụ trong nông nghiệp đang tăng. Số các nước tuyển dụng lao động nước ngoài tăng từ 42 lên 90 nước và có 20 triệu lao động di cư sang châu Phi, 18 triệu người ở Bắc Mỹ, 12 triệu người ở Trung và Nam Mỹ, 7 triệu người ở Nam và Đông Á, 9 triệu người ở Trung Đông và 30 triệu người ở châu Âu. 

Người di cư tạm thời đang tăng và ngày càng có nhiều phụ nữ di cư. Năm 2000, 49% người di cư trên thế giới là phụ nữ, trong số  80 đến 90 triệu người lao động, và những người sống phụ thuộc vào họ không dưới 15% đang làm việc bất hợp pháp. Hai mươi lăm năm trước, chỉ có 6% số nước có chính sách hạn chế nhập cư; hiện nay con số này là 40%. Thách thức đối với di cư bất hợp pháp ngày càng nhiều, thì giá cả buôn lậu càng cao. Hai phần ba người Ác-mê-ni là người di cư hoặc con cháu của người di cư, và cứ bốn người sinh ra ở ác mê ni hiện nay có 1 người sống ở nước ngoài. Có 3 triệu người sống ở ác mê ni, và có khoảng 10 triệu người ác mê ni sống ở nước ngoài, đa số họ sống ở Nga vì  người  Ác-mê-ni không cần có visa, và họ đã có những sự liên kết dưới dạng quan hệ họ hàng cá nhân.

 

Ấn Độ cứ  5 phút có một người mẹ chết do sinh đẻ

Ở Ấn Độ cứ 5 phút có một người mẹ chết do sinh đẻ, tỷ lệ tử vong mẹ là 534/100.000 người chết. Các chuyên gia đã chỉ ra rằng ở Singapore, tỷ lệ tử vong mẹ là 5, so với 800 ở các bang Jharkhand, Bihar và Uttar Pradesh ở ấn Độ. Trình độ văn hoá có vai trò quan trọng. ở Kerala, bang tự hào có tỷ lệ biết chữ 100%, tỷ lệ tử vong này chỉ ở mức 70‰. Việc phân bổ ngân sách cho y tế đáng lẽ phải tăng từ 0,5% lên 5%. Nếu người đỡ đẻ được đào tạo và có kiến thức về thuốc chữa bệnh, thì tỷ lệ tử vong mẹ sẽ giảm trong các bang như Jharkhand và Bihar. ở các khu vực lớn của các bang này, phụ nữ có thai bị phụ thuộc vào lang vườn và các bà đỡ truyền thống, những người không có kiến thức và cũng không có thiết bị để xử lý các trường hợp nguy kịch.<

NGUYỄN THÁI HÀ dịch

 

]]>