KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005

 

 

 

A. Tình hình kinh tế

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2005 ước tính tăng 7,63% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quí I tăng 7,31% (cao hơn mức tăng 7,23% ước tính vào cuối tháng 3/2005) và quí II ước tính tăng 7,87%. Tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay cao hơn hẳn mức tăng trưởng 6 tháng đầu các năm trước (2001 tăng 7,1%; 2002 tăng 6,5%; 2003 tăng 7,0%; 2004 tăng 7,1%).

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,23%, khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 9,5%, khu vực dịch vụ tăng 7,6%. Trong 7,63 điểm phần trăm tăng trưởng, khu vực công nghiệp, xây dựng đóng góp tới 3,68 điểm phần trăm, dịch vụ đóng góp 3,07 điểm phần trăm và khu vực  nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đóng góp 0,88 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng tăng trưởng 4,23%, cao hơn tốc độ tăng của khu vực này năm trước, chủ yếu do nông nghiệp tăng 3,9% và thuỷ sản tăng 7,5%. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 9,5%, chủ yếu do công nghiệp chế biến tăng 11,42%. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 7,6%,  trong đó một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn đều có mức tăng trưởng cao như thương nghiệp tăng 7,6%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 7,7% (cùng kỳ năm trước tăng 7,3%); tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,5% (cùng kỳ năm trước tăng 7,5%), đặc biệt là khách sạn, nhà hàng tăng 15% (cùng kỳ năm trước tăng 5,9%).

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 53,8% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 52,1%, thu dầu thô đạt 64%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 48,5%. Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đạt 48,8% dự toán cả năm, đã đảm bảo được kế hoạch các khoản chi thường xuyên đạt 50,7% nhưng chi cho đầu tư phát triển mới đạt 45% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 44,5%). Bội chi ngân sách 6 tháng ước tính bằng 33,2% mức bội chi dự kiến cả năm.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2005 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó nông nghiệp tăng 4,5%, lâm nghiệp tăng 0,6% và thuỷ sản tăng 8,2%.

Nông nghiệp: Sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay ước tính đạt 19,1 triệu tấn, tăng 29,5 vạn tấn (+1,6%) so với vụ đông xuân năm trước, trong đó lúa tăng 1,3% và ngô tăng 4,5%. Sản lượng lúa đông xuân năm 2005 đạt 17,3 triệu tấn, tăng 21,9 vạn tấn, do năng suất tăng 1,5 tạ/ha (+2,5%) nên đã bù lại được diện tích giảm do hạn hán ở một số vùng (Đông Nam Bộ giảm 22,5%, Tây Nguyên giảm 11%, Duyên hải Nam Trung Bộ giảm 2,9%). Sản lượng ngô vụ đông xuân cả nước đạt 1,79 triệu tấn, tăng 7,7 vạn tấn (+ 4,5%), chủ yếu do diện tích tăng 26,2 nghìn ha (+ 5,4%), trong đó diện tích ngô miền Bắc tăng 6,1%. Sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm và rau, đậu tăng khá: đậu tương tăng 34,9%, lạc tăng 2,9%; rau, đậu tăng 6,3%.

Chăn nuôi gia súc có xu hướng phát triển nhanh, do nhu cầu thực phẩm tăng cao sau dịch cúm gia cầm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2005, cả nước có 26 triệu con lợn, tăng 4,9% so với cùng thời điểm năm trước; Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 7%; Đàn gia cầm đã được khôi phục và tăng 8% so với cùng kỳ, chủ yếu phát triển ở hộ có qui mô chăn nuôi nhỏ. 

Lâm nghiệp: Tiến độ trồng rừng 6 tháng đầu năm nay chậm hơn so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng trồng 6 tháng bằng 99,6% cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác (kể cả gỗ nguyên liệu giấy) tăng 0,9% so với 6 tháng đầu năm 2004, trong đó 69% gỗ khai thác từ rừng trồng. Công tác quản lý bảo vệ rừng đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, hạn hán kéo dài, lực lượng kiểm lâm còn mỏng… nên trong 6 tháng cả nước có 4546 ha rừng bị thiệt hại, trong đó 4005 ha bị cháy, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước (Kon Tum: 1048 ha, Điện Biên: 766 ha, Yên Bái: 370 ha).

 Thuỷ sản 6 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản lượng ước tính đạt 1542 nghìn tấn, tăng 7,7%, trong đó nuôi trồng đạt 536,7 nghìn tấn, tăng 17,6%, khai thác đạt 1005,3 nghìn tấn, tăng 3,1%, chủ yếu là  khai thác biển đạt 920 nghìn tấn, tăng 3,9%.

Nuôi trồng thủy sản tăng, do giá thuỷ sản tăng cao từ đầu năm đã khuyến khích nông dân mở rộng diện tích nuôi trồng và phát triển nuôi thuỷ sản chuyên canh cao. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 4,4%, trong đó diện tích nuôi tôm tăng 2,6%, diện tích nuôi cá tăng 1,6%. Khai thác thuỷ sản tăng, do thời tiết thuận lợi cho khai thác biển.

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6/2005 ước tính tăng 17,8 % so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực Nhà nước tăng 9,6%, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 24,9%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,4%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 6 sản xuất tăng đã góp phần vào tốc độ tăng chung như: than sạch khai thác, thủy sản chế biến, xi măng, thép cán, máy công cụ, động cơ điện, ô tô các loại… Sản xuất điện có tiến bộ hơn do nguồn nước cho thuỷ điện Hoà Bình được cải thiện từ giữa tháng 6 và các giải pháp của Chính phủ nhằm khắc phục khó khăn trong sản xuất và cung cấp điện tiếp tục được thực hiện.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,6% so với cùng kỳ, trong đó khu vực Nhà nước tăng 9,7% (Trung ương quản lý tăng 13,6%; địa phương quản lý tăng 1,5%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,9% (dầu mỏ và khí đốt giảm 10,4%, các ngành khác tăng 22,8%). Công nghiệp Nhà nước tăng thấp, đặc biệt là công nghiệp Nhà nước địa phương quản lý chỉ tăng 1,5%, do sắp xếp lại và đẩy mạnh cổ phần hoá.

Trong ba ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp chế biến chiếm khoảng 84% giá trị sản xuất toàn ngành, tăng 16,9% so với 6 tháng đầu năm 2004; công nghiệp khai thác mỏ chiếm tỷ trọng 10%, chỉ tăng 6,6%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước chiếm tỷ trọng 6%, tăng 14%.

4. Đầu tư

 Vốn đầu tư  thực  hiện 6 tháng đầu năm 2005 theo giá thực tế ước tính đạt 139,4 nghìn tỷ đồng, bằng 46,5% kế hoạch năm và tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, vốn Nhà nước chiếm 52,8%, đạt 43% kế hoạch năm và tăng 19,1 %; vốn ngoài Nhà nước chiếm 28,9%, đạt 48,3% kế hoạch và tăng 27,3 %; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,4%, đạt 56,5% và tăng 7,9%.

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung thực hiện 25,3 nghìn tỷ đồng, đạt 48,7% kế hoạch năm, trong đó vốn thuộc trung ương quản lý 10,3 nghìn tỷ đồng, đạt 51,6% kế hoạch năm, vốn thuộc địa phương quản lý 15 nghìn tỷ đồng, chiếm 59,4% tổng số, đạt 46,9% kế hoạch năm.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến hết 20/6/2005 có 323 dự án mới đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1867,6 triệu USD. Bình quân 1 dự án đạt gần 5,8 triệu USD (cùng kỳ năm trước đạt 2,9 triệu USD/dự án).

5. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 6 tháng đầu năm nay (theo giá thực tế) ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng trên 9%. Các khu vực kinh tế (trừ kinh tế Nhà nước) đều có mức tăng cao. Phân tích theo ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 79,9% tổng mức, tăng 16,7%, khách sạn nhà hàng chiếm 13,4%, nhưng tăng tới gần 30%; dịch vụ chiếm 6%, tăng 28,3%.

Giá tiêu dùng so với tháng trước của tất cả các tháng từ đầu năm đến nay đều tăng, tuy mức độ tăng thấp hơn một chút so với mức tăng giá của các tháng tương ứng trong 6 tháng đầu năm trước và mức tăng khác nhau giữa các tháng (tháng cao nhất + 2,5%, tháng thấp nhất + 0,1%). Giá tiêu dùng tháng 6 so với tháng 12 năm trước tăng 5,2%. Đáng chú ý là giá tiêu dùng của tất cả các nhóm đều tăng.

Giá vàng trong 6 tháng có xu hướng giảm. Giá vàng các tháng đều giảm nhẹ so với tháng trước (Trừ giá vàng tháng 3 tăng 2%), do vậy giá vàng tháng  6 chỉ bằng 95,6% giá vàng tháng 12 năm trước. Tuy nhiên, giá vàng trong các tháng đầu năm so với cùng kỳ vẫn ở mức cao, bình quân 6 tháng tăng 6,4%.

Giá đô la Mỹ tương đối ổn định trong 6 tháng đầu năm, giá các tháng so với tháng trước không thay đổi hoặc chỉ tăng ở mức 0,1%. Giá đô la Mỹ các tháng so với tháng 12 năm trước chỉ tăng nhẹ, giao động trong khoảng từ 0 đến 0,3%.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 32,44 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,4%, nhập khẩu tăng 22%. Nhập siêu 6 tháng 3,5 tỷ USD, bằng 24,7% kim ngạch xuất khẩu, cao hơn tỷ lệ 20% của 6 tháng đầu năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đạt 14,44 tỷ USD, bình quân 1 tháng gần 2,4 tỷ USD, cao hơn mức bình quân 2,05 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 11,07 tỷ USD, tăng 13,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,26 tỷ USD tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,8 tỷ USD, tăng 17,8%.

Theo số liệu thống kê 5 tháng đầu năm nay, một số thị trường có tốc độ tăng trưởng khá như: thị trường Mỹ, chiếm 16,8% tổng kim ngạch, tăng 13,2% so cùng kỳ năm trước, Nhật Bản chiếm 14%, tăng 37,5%; ASEAN, chiếm 13,7%, tăng 46,4%; Ô-xtrây-li-a tăng tới 73,7%... Riêng xuất khẩu vào EU, chiếm 13,8% thị phần, giảm 8%, chủ yếu giảm hàng dệt may, giày dép, do có sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng Trung Quốc, Pakistan, Băng-la-đét, Ấn Độ...

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đạt 18 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,2%. Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Xăng dầu tăng 36,2%, sắt thép tăng 30,6%, chất dẻo tăng 30,6%, hoá chất tăng 36,4%, sản phẩm hoá chất tăng 22,4%, giấy tăng 60,6%, gỗ và nguyên liệu gỗ tăng 32,6%, máy móc thiết bị tăng 14%. Tuy nhiên, giá nhập khẩu một số mặt hàng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước đã làm tăng đáng kể kim ngạch nhập khẩu, trong khi lượng nhập của các mặt hàng tương ứng lại tăng thấp hoặc giảm: Khối lượng nhập khẩu xăng dầu chỉ tăng 2,3%; sắt thép tăng 7,3%, chất dẻo giảm 3,7%; Các mặt hàng có kim ngạch giảm là phôi thép, phân bón, nguyên phụ liệu dệt, may; bông; dầu mỡ động, thực vật. 

Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2005 ước tính tăng 4,7% về lượt khách và tăng 11,2% về lượt khách.km, trong đó các con số tương ứng của vận tải hành khách bằng đường sắt là tăng 8% và tăng 11,6%, bằng hàng không là tăng 23,4% và tăng 26,4%, bằng đường bộ là tăng 5,4% và tăng 7,4%.

 Vận chuyển hàng hoá ước tính tăng 5,9% về tấn và tăng 7,9% về tấn.km, trong đó vận tải hàng hoá bằng đường sắt tăng 3,5% và tăng 2%, bằng đường biển tăng 9,5% và tăng 9,2%, bằng đường bộ tăng 5,8% và tăng 3,6%, bằng đường sông tăng 5% và tăng 4,7%.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2005 đạt 1,72 triệu lượt người, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khách đến du lịch tăng 40,4%; thăm thân nhân tăng 12,1%. Khách đến từ CHND Trung Hoa tăng 5,7%, từ Mỹ tăng 19,4%, Hàn Quốc tăng 60,3%, từ Đài Loan tăng 11,9%, từ Nhật Bản tăng 21,6%, từ Ô- xtrây-li-a tăng 17%...

B. Một số vấn đề xã hội

1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm nay nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời trong các dịp lễ, tết đã góp phần cải thiện đời sống cho người lao động. Thu nhập bình quân một tháng của lao động trong khu vực Nhà nước ước tính đạt trên 1,5 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân của lao động Nhà nước thuộc trung ương quản lý đạt 2 triệu đồng, thuộc địa phương quản lý đạt 1,2 triệu đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập này không đồng đều giữa các ngành và các địa phương.

Ở nông thôn, sản xuất và đời sống của dân cư một số vùng bị ảnh hưởng của thời tiết diễn biến bất thường và  hạn hán kéo dài. Tình trạng thiếu đói trong 6 tháng qua tập trung chủ yếu ở một số tỉnh vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. 

2. Văn hoá, thông tin và thể dục, thể thao

Hoạt động văn hoá thông tin 6 tháng đầu năm tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ với nội dung phong phú được tổ chức rộng khắp cả nước. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh; Công tác thanh tra, kiểm tra dịch vụ văn hoá được tăng cường ở các địa phương. Đặc biệt, trong thời gian qua Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tổng kiểm tra hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá như vũ trường, quán bar, karaoke, đã phát hiện một số vụ vi phạm nghiêm trọng.

Hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi và rộng khắp trong các địa phương với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Trong thể thao thành tích cao, đã tập trung vào công tác chuẩn bị lực lượng tham dự SEA Games 23, tổ chức hơn 60 giải thi đấu thể thao thành tích cao ở trong nước và tham gia thi đấu tại nhiều giải quốc tế, đạt được kết quả cao với 31 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 28 huy chương đồng. 

3. Giáo dục, đào tạo

Thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2004-2005: Cả nước có 1,56 triệu học sinh dự thi tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 11,7% so với năm học trước và 820,1 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 10,1%. Theo báo cáo sơ bộ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở năm học 2004-2005 đạt 96,4%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 89,2%.

Phổ cập giáo dục: Cả nước có 24/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, trong đó cả 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đều đạt chuẩn;  Có 26 tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

Tình hình đăng ký dự thi đại học, cao đẳng: Tính đến ngày 11/5, số thí sinh đăng ký dự thi vào các trường đại học và cao đẳng trong cả nước năm học 2005-2006 là 1,54 triệu lượt người (chưa kể các trường thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và một số trường cao đẳng sư phạm địa phương), giảm 1,8% so với số dự thi vào năm học trước, trong đó số dự thi đại học là 1,12 triệu lượt người, tăng 2% và dự thi cao đẳng 417 nghìn lượt người, giảm 12%.

4. Tình hình dịch bệnh

Trong 6 tháng đầu năm, số trường hợp mắc bệnh sốt rét giảm 58,9% so với cùng kỳ năm trước; số người mắc bệnh sốt xuất huyết giảm 72,8%; số người mắc bệnh thương hàn tăng 12,3%. Cũng trong 6 tháng đầu năm đã có trên 1,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 24 người đã tử vong.

Tình hình bệnh viêm phối cấp do virus cúm A-H5N1 còn diễn biến phức tạp: trong tháng 5 không phát hiện trường hợp nào nhiễm bệnh, nhưng sang tháng 6 đã có 7 trường hợp mắc bệnh, trong đó 1 người đã tử vong. Tính từ trường hợp đầu tiên được phát hiện đến nay, cả nước đã có 87 người mắc bệnh, trong đó 38 người đã tử vong.

Trong 6 tháng đã phát hiện thêm 6,9 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/6/2005 lên 96,2 nghìn người, trong đó 15,7 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 9 nghìn người đã chết do AIDS.

5. Tai nạn giao thông

Trong 5 tháng đầu năm 2005, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 6,5 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 4,9 nghìn người và làm bị thương 5,6 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 18,3%, số người chết giảm 6% và số người bị thương giảm 23,6%, nhưng tai nạn giao thông vẫn ở mức cao: Bình quân mỗi ngày trong 5 tháng qua xảy ra 43 vụ tai nạn, làm chết 33 người và làm bị thương 37 người.

6. Thiệt hại do lụt bão

Từ đầu năm đến nay đã xảy ra mưa to, lũ, gió lốc, sét đánh, sạt lở đất... tại 26 tỉnh trong cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 35 người chết, 160 người bị thương; hàng vạn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hại; trên 600 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, hàng vạn nhà bị tốc mái, hư hại và nhiều công trình kinh tế-xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 83 tỷ đồng.

Kết luận:

Kinh tế- xã hội nước ta trong 6 tháng đầu năm 2005 tiếp tục phát triển và ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng trưởng của 6 tháng đầu các năm trước và tăng trưởng quí II cao hơn quí I. Các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tuy chưa đạt yêu cầu như kế hoạch đề ra, nhưng tốc độ tăng 7,6% là tương đối cao. Xuất khẩu tăng cao so với kế hoạch, bình quân tháng đạt 2,4 tỷ USD. Thu ngân sách đạt trên 50% kế hoạch năm và tăng so với cùng kỳ năm trước nên cơ bản đảm bảo các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. Giá cả vẫn tăng cao nhưng mức tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước. Tình hình xã hội ổn định; văn hoá, y tế , giáo dục tiếp tục phát triển.

Phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm có những thuận lợi trong tình hình kinh tế thế giới phát triển. Nhưng nhiệm vụ tăng trưởng và phát triển kinh tế còn lại của 6 tháng cuối năm là khá nặng nề, cần có sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành và sự tập trung chỉ đạo cao độ.

Để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng của năm là 8,5%, cần quan tâm giải quyết các khó khăn, tạo đà phát triển mạnh hơn nữa trong các ngành kinh tế quan trọng như công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu và cần có các giải pháp hữu hiệu để ổn định giá cả, kiềm chế xu hướng giá cả tăng cao trong những tháng cuối năm.<

Nguồn: Thông cáo báo chí

của Tổng cục Thống kê

]]>