Hội thảo “Di cư và hôn nhân ở Châu Á”
 

Những năm gần đây cùng với xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển kinh tế, các giao lưu về chính trị, khoa học, văn hoá ngày càng được mở rộng. Vấn đề di cư và hôn nhân quốc tế đã trở thành phổ biến không chỉ ở châu Âu, châu Mỹ mà còn lan rộng sang các nước ở châu Á, nơi được coi là ít cởi mở và gìn giữ lâu bền truyền thống hôn nhân trong nội bộ dân tộc. Tính toàn cầu của vấn đề và hiện trạng khó khăn của nhiều cô dâu khi sống ở nước ngoài đã đặt Việt Nam phải tham gia phối hợp nghiên cứu và hành động với các nước có liên quan. Trên cơ sở đó, ngày 19/04/2007 tại Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển (RCGAD) phối hợp với tổ chức “Trao đổi về sự lựa chọn mới của châu Á (ARENA) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Di cư và Hôn nhân ở châu Á”.
Mục tiêu chính của hội thảo là thiết lập mạng lưới nghiên cứu và hành động quốc tế về vấn đề di cư và hôn nhân ở châu Á nhằm cải thiện luật pháp, bảo vệ những phụ nữ di cư hôn nhân và phòng chống buôn bán người. Từ đó đưa ra các khuyến nghị mang tính khả thi cho việc nâng cao trách nhiệm của nước gửi và nước nhận. Đó là các chính sách phù hợp trong từng nước, xây dựng các thoả thuận quốc tế tích cực để đảm bảo tính chất tốt đẹp của hôn nhân và ngăn chặn buôn bán phụ nữ và trẻ em.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 15 tham luận trình bày về các vấn đề di cư và hôn nhân, vấn đề buôn bán người đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em nhằm mục đích làm vợ hoặc làm gái mại dâm ở châu Á của các tổ chức trong nước như Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Viện nghiên cứu Thanh niên, Viện Gia đình và Giới, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển; Các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt nam như IOM, Oxfam Quebec, Action Aids; Quỹ phát triển phụ nữ Liên Hợp quốc (UNIFEM) và các thành viên của tổ chức ARENA.
Hội thảo đã nêu lên một thực trạng ngày càng có nhiều nam giới ở các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đi tìm vợ ở các nước nghèo hơn, trong đó có Việt Nam. Điều này thể hiện nhu cầu chính đáng của người dân trong việc xây dựng gia đình và tìm kiếm hạnh phúc, phù hợp với xu hướng liên kết và hợp tác trong khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều cuộc hôn nhân đơn giản chỉ là mua và bán vì các cặp nam nữ không có thời gian và điều kiện để yêu đương. Trước khi lập gia đình, cả hai bên đều không biết phong tục tập quán, ngôn ngữ, hoàn cảnh gia đình và luật pháp của phía đối tác. Việc người đàn ông ở những nước giàu hơn đã khiến anh ta có nhiều lợi thế và càng khẳng định đẳng cấp vị trí ông chủ. Trong khi đó, pháp luật của cả nước gửi và nước nhận còn lỏng lẻo nên đã vô tình tiếp tay cho hiện tượng mua bán hôn nhân phát triển.
Di cư và hôn nhân ở châu Á không chỉ là vấn đề liên quan đến những nguyên nhân về kinh tế, là một biểu hiện của việc phân hoá giàu nghèo trên phạm vi toàn cầu mà nhân loại chưa thể khắc phục được. Nước gửi thường là các nước nghèo còn nước nhận thường là các nước giàu, mà còn là vấn đề liên quan đến những nguyên nhân từ các yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội, con người. Trên cơ sở đó, các tổ chức tham gia Hội thảo không chỉ trình bày quan điểm xoay quanh các vấn đề kinh tế của hiện trạng này, mà còn nhấn mạnh đến vai trò của chính phủ và các tổ chức dân sự của cả nước gửi lẫn nước nhận, đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm của các gia đình, cá nhân đã và đang tham gia vào các cuộc hôn nhân này.
Theo thống kê của tổ chức Di cư quốc tế (IOM), hiện nay có tới191 triệu người đã di cư trên phạm vi toàn cầu và một nửa số họ là phụ nữ (khoảng 95 triệu). Riêng Hàn Quốc, tổng số phụ nữ di cư hôn nhân là 197.634 người trong đó 11,4% là từ năm 1990 đến 2004. Đặc biệt là giữa năm 2003 và năm 2004, con số đã lên tới 42,3% và sẽ tiếp tục tăng. Ở Đài Loan và Nhật Bản, hôn nhân di cư từ châu Á đã phát triển những năm 1980. Việt Nam, từ những năm 1990 đến nay, đã có hàng vạn phụ nữ di cư ra nước ngoài và kết hôn theo cả hai con đường hợp pháp và bất hợp pháp. Nhiều cuộc hôn nhân đã diễn ra không bình thường và mang màu sắc buôn bán phụ nữ và trẻ em.
Trong hội thảo này, một câu hỏi thú vị đã được tổ chức ARENA đưa ra để thảo luận là: Liệu chúng ta có thể đưa phụ nữ di cư hôn nhân trở thành những chủ thể tích cực thay thế cho những nạn nhân bị động? Con đường nào chúng ta có thể tiến tới việc xoá bỏ nạn nhân hoá phụ nữ? Bởi những người di cư kết hôn có vai trò quan trọng trong việc đóng góp để xây dựng một cộng đồng đa văn hoá châu Á, là người đóng vai trò đặc biệt như là người trung gian kết nối nước họ với nước của chồng họ. Và một vấn đề quan trọng cũng được đưa ra bàn thảo là chủ đề về quốc tịch, đặc biệt là cách nhìn mới về tương lai của vấn đề quốc tịch cho các yêu cầu của phụ nữ. Việc có tầm nhìn mới về quốc tịch vững chắc bao gồm các quyền cơ bản về công dân và chính trị, kinh tế và văn hoá xã hội. Những người di cư hôn nhân là phụ nữ thường bị phân biệt bởi chủ nghĩa gia trưởng ở cả địa phương họ ra đi lẫn nơi họ đến, do những nguyên nhân xung đột văn hoá từ sự khác biệt về phong tục.
Có thể nói, vấn đề kết hôn giữa những người không cùng quốc tịch đang trở thành một hiện tượng thực tế trong xã hội. Tìm kiếm bạn đời và kết hôn, đó là nhu cầu chính đáng của mỗi người trong việc xây dựng hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, nhiều dịch vụ môi giới hôn nhân bất hợp pháp đã lợi dụng nhu cầu này để lừa đảo buôn bán phụ nữ. Sự nhẹ dạ cả tin, ước muốn đổi đời của những cô gái nông thôn nghèo, đa phần có hoàn cảnh éo le, cộng với sự thiếu hoàn thiện của luật pháp của cả nước gửi và nước nhận đã vô tình tiếp tay cho những kẻ môi giới thực hiện tệ nạn này.
Hội thảo “Di cư và Hôn nhân ở châu Á” được coi là hoạt động mở đầu của dự án “3 năm hợp tác giữa các nhóm hôn nhân-di cư cho quốc tịch mới của phụ nữ hôn nhân –di cư ở châu Á” của ARENA và RCGAD với mong muốn khởi xướng một tiến trình vươn tới sự trao đổi khu vực nhằm loại bỏ tình trạng di cư bị xâm hại và bạo lực giới.
         KHÁNH NGỌC