NÂNG CAO TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH NHÓM PHỤ NỮ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG SỨC KHOẺ SINH SẢN VÀ TIẾT KIỆM TÍN DỤNG TẠI THANH HÓA
ThS. ĐỖ VĂN QUÂN*
 

*1. Đặt vấn đề
Trong những năm vừa qua, được sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã triển khai mô hình “Nhóm phụ nữ Bình đẳng giới trong sức khoẻ sinh sản (SKSS) và tiết kiệm, tín dụng” tại Thanh Hoá. Mô hình đã được triển khai trọng điểm tại 9 huyện (gồm 45 xã với 450 nhóm được thành lập). Trong đó có 2 huyện ven biển (Quảng Xương, Tĩnh Gia); 3 huyện đồng bằng (Yên Định, Nông Cống, Triệu Sơn); 4 huyện miền núi (Như Thanh, Như Xuân, Thường Xuân và Cẩm Thủy). Tổng số bà mẹ tham gia dự án là 9.228 người và 1.350 cháu gái. Mỗi nhóm có 20 thành viên là các hộ gia đình tham gia. Trên thực tế dự án do UNFPA tài trợ đã kết thúc, tuy nhiên phần lớn các mô hình nhóm/câu lạc bộ vẫn còn tồn tại và hoạt động với những cách thức và mức độ khác nhau. Cho đến nay các cấp Hội Phụ nữ chưa tiến hành rà soát, kiện toàn, thống kê được trong thực tế còn bao nhiêu nhóm hoạt động, bao nhiêu nhóm đã chuyển sang mô hình Câu lạc bộ. Đây có lẽ là một thiếu sót cần được khắc phục sớm. Điều này đặt ra vấn đề là cần phải tiến hành đánh giá mức độ tác động đến đời sống của những người tham gia, đồng thời tiến hành rà soát các mô hình hoạt động, xác định nhu cầu và các giải pháp nhằm kế thừa tiếp tục phát triển các nhóm/ câu lạc bộ. Bài viết này dựa trên kết quả khảo sát tại Thanh Hóa vào tháng 12/2006.
2. Thực trạng hoạt động của mô hình dự án
Có thể nói, đây là một trong những dự án lồng ghép các muc tiêu nhằm phát triển gia đình bền vững hoạt động có hiệu quả của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian vừa qua. Kết quả của mô hình là rất khả quan trên nhiều lĩnh vực và khía cạnh khác nhau.
Trước hết là sự trưởng thành của cán bộ Hội Phụ nữ các cấp, nhất là những thành viên trực tiếp tham gia Ban chỉ đạo mô hình. Nhiều ý kiến cho rằng, đây là một hình thức hoạt động có hiệu quả thiết thực nhất trong thời gian vừa qua. Cũng thông qua dự án này mà các cấp Hội, nhất là những thành viên ban dự án đã học tập được nhiều kinh nghiệm, kỹ năng quý báu trong tổ chức, quản lý điều hành hoạt động, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Bên cạnh đó là sự tác động tích cực đến vấn đề DS/SKSS, xóa đói giảm nghèo, nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức của hội viện phụ nữ về DS/KHHGĐ và SKSS được nâng lên rõ rệt. Các chị em đã có nhận thức tốt hơn, có thái độ tích cực hơn và có hành vi khoa học và tuân thủ trong thực hiện chính sách dân số/chăm sóc SKSS và KHHGĐ. Tĩnh Gia vốn là huyện vùng biển, có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa và có tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên rất cao, khi thực hiện dự án đã có 90% số các cặp vợ chồng tham gia sinh hoạt không sinh con thứ 3. Theo số liệu của Hội phụ nữ tỉnh đến nay đã có 99,6% gia đình thành viên nhóm tự giác thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại. 100% gia đình cam kết không sinh con thứ 3. Đã có nhiều nam giới chuyển đổi nhận thức, thái độ và hành vi liên quan đến vấn đề DS/KHHGĐ/SKSS.       
Đồng thời, những thành viên tham gia sinh hoạt nhóm đã có nhận thức tốt hơn về sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, chế biến hải sản...Đặc biệt, trong nhận thức của họ đến các vấn đề về khuyến nông đã có sự thay đổi rõ rệt. So với trước đây sự quan tâm của họ đến các vấn đề về khuyến nông có xu hướng tích cực hơn rất nhiều. Nhờ có dự án mà các thành viên của nhóm đã biết xây dựng kế hoạch sản xuất và lập dự án vay vốn để phát triển sản xuất, góp phần quan trọng cho xóa đói giảm nghèo.
Mức độ đưa nội dung tiết kiệm-tín dụng phát triển kinh tế gia đình vào các buổi sinh hoạt đã trở thành thường xuyên và đối với nhiều nhóm/ câu lạc bộ. Tại các buổi sinh hoạt hàng tháng cũng là lúc chị em thực hiện trách nhiệm góp quỹ theo quy định, trả lãi suất cho nhóm, thực hiện cho hội viên vay tiền tiết kiệm-tín dụng của nhóm. Đây chính là cơ hội tốt cho chị em tham gia đóng góp vào các hoạt động kinh tế của gia đình. Nhiều chị em tâm sự, nhờ tham gia các hoạt động tín dụng, tiết kiệm mà người chồng đánh giá và coi trọng mình hơn.
Nguồn vốn vay được các hộ gia đình sử dụng đúng mục đích, đầu tư chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, chế biến hải sản, làm dịch vụ buôn bán nhỏ. Có thể nói, có nhiều gia đình trước khi tham gia dự án thường xuyên bị đói ăn, không biết sản xuất kinh doanh, nhưng sau khi tham gia dự án đã có sự cải thiện rõ rệt. Họ không chỉ thoát được nghèo mà còn biết tính toán, biết xác định rõ cho mình là cần phải tự nỗ lực vươn lên để xóa đói giảm nghèo và từng bước có tích lũy, làm giàu ngay tại chính quê hương mình. Đến nay đã có 100% thành viên các nhóm hoàn trả vốn vay từ ngân hàng.
Ngoài ra phong trào văn hóa văn nghệ, sự tự tin trên diễn đàn của chị em phụ nữ là một chỉ báo quan trọng khẳng định sự thành công của mô hình. Điều này cho thấy hoạt động văn hóa, văn nghệ là món ăn tinh thần quan trọng của người dân và nó đã được phát huy và thể hiện thông qua các buổi sinh hoạt. Không chỉ có nam tham gia tích cực mà bản thân chị em phụ nữ cũng tham gia hăng hái. Có không ít các cặp vợ chồng thông qua sinh hoạt nhóm đã trở thành hạt nhân văn nghệ của địa phương. Nhiều chị em tâm sự rằng, thông qua sinh hoạt, chị em có cơ hội để chia sẻ thông cảm, hiểu biết lẫn nhau hơn, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn.
3. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ hoạt động của mô hình
- Biết tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương cho mô hình hoạt động có hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng. Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, ở các mô hình hoạt động tích cực và có hiệu quả không những trong thời gian dự án tồn tại mà ngay cả sau giai đoạn dự án kết thúc có một vai trò to lớn của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Ngược lại, ở những địa phương mà cấp ủy Đảng, chính quyền chưa có sự chỉ đạo quan tâm sát sao, các cấp Hội, Ban dự án chưa biết tranh thủ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và thống nhất với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương thì hiệu quả thấp thậm chí các mô hình tự giải tán, không còn hoạt động sau khi dự án kết thúc. Do vậy, muốn cho dự án triển khai tiếp tục và có hiệu quả thì các cấp ủy Đảng, chính quyền phải tham gia nhiều hơn, phải coi đây là một lĩnh vực cần quan tâm.
- Thành công và hạn chế của mô hình dự án cho thấy vai trò to lớn của các cấp Hội phụ nữ, tuy nhiên kết quả giữa các địa phương là hết sức khác nhau. Tại những địa phương mà cấp Hội Phụ nữ quan tâm quán xuyến chỉ đạo đã tạo ra đòn bẩy quan trọng cho sự thành công của mô hình.
- Qua thực tế đánh giá, nhóm nghiên cứu nhận thấy, khâu tổ chức cán bộ, ban điều hành mô hình có tầm quan trọng then chốt. Cùng là nguồn lực đầu tư như vậy, nhưng rõ ràng vấn đề tổ chức cán bộ và ban điều hành được coi trọng thì mức độ hiệu quả ở địa phương đó sẽ cao và bền vững hơn.
- Hiệu quả của các mô hình, nhất là mô hình đang còn hoạt động cho thấy, sự hỗ trợ cho mô hình về kinh phí, tài liệu là hết sức cần thiết. Thực tế cho thấy, các mô hình còn hoạt động sau khi dự án kết thúc có nhiều nguyên nhân nhưng cần phải kể đến về các nguồn kinh phí và tài liệu được duy trì và phát triển.
- Việc chọn đúng đối tượng phù hợp với mô hình có một ý nghĩa rất quan trọng. Cùng một nguồn lực đầu tư như nhau, tuy nhiên ở những mô hình, địa phương hay nhóm/câu lạc bộ nào tuân thủ đúng quy trình lựa chọn các đối tượng tham gia tự nguyện và phù hợp với các yêu cầu thì ở đó sẽ phát huy được hiệu quả cao.
4. Những vấn đề đặt ra đối với tính bền vững của mô hình
- Cũng như nhiều dự án khác, dự án vẫn còn tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”. Tức là khi tiến hành khai trương thì tất cả đều được tổ chức long trọng bài bản, tuy nhiên trong quá trình hoạt động và nhất là khi kết thúc dự án thì lại chưa được quan tâm đúng mức.
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, dân tộc... của từng vùng miền, địa phương là hết sức khác nhau, tuy nhiên dự án lại áp dụng mang tính phổ biến đại trà là chính. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận dụng triển khai mô hình của các cấp Hội phụ nữ địa phương, nhất là cấp cơ sở, và do đó ảnh hưởng đến tính hiệu quả của dự án.
 - Dự án thực hiện trong thời gian ngắn, chưa thực sự tác động một cách bền vững đến các mục tiêu đề ra. Bởi vì, những thành viên được lựa chọn tham gia dự án thường có điểm xuất phát rất thấp, cho nên nếu dự án kéo dài thêm thời gian thực hiện từ 1-2 năm chắc chắn tính bền vững sẽ được đảm bảo tốt hơn.
- Tài liệu hướng dẫn nội dung và cách thức sinh hoạt nhóm/câu lạc bộ còn bị bó hẹp, mới chỉ dành cho sinh hoạt 13 kỳ và cố định các chủ đề trong khi đó thực tế nhu cầu giữa các địa phương là hết sức khác nhau. Tài liệu sinh hoạt cho nhóm vị thành niên rất ít do vậy tính hiệu quả của mô hình này còn thấp so với mô hình của các bà mẹ. Việc bố trí các bậc phụ huynh tuyên truyền về SKSS cho các cháu là chưa phù hợp. Các cháu muốn tự đọc tài liệu hơn là đến tập trung nghe người lớn tuyên truyền.
- Dự án chưa tính phần kinh phí bồi dưỡng trách nhiệm cho Ban quản lý và mời giảng viên, báo cáo viên trong các buổi sinh hoạt nhóm. Điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt của nhóm/câu lạc bộ. Ban quản lý mô hình chưa có chế độ bồi dưỡng trách nhiệm nên cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tính tích cực chủ động và nhiệt tình của họ trong công việc. Đặc biệt, kinh phí của dự án không xây dựng mục phụ cấp cho nhóm trưởng, một số nhóm trưởng nhận thức chưa đúng nên chưa thật sự nhiệt tình và tích cực hoạt động.
- Tại nhiều nhóm/câu lạc bộ đang gặp khó khăn về kinh phí hoạt động, như trà nước, văn phòng phẩm, tiền thù lao mời báo cáo viên... Nếu như có sự hỗ trợ kinh phí ở một mức nhất định nào đó để tạo sự động viên khích lệ cần thiết thì mô hình hoạt động sẽ tích cực hơn.
- Qúa trình hoạt động của dự án một số cán bộ Hội Phụ nữ các cấp, các nhóm trưởng, ban chủ nhiệm câu lạc bộ chưa được đào tạo bổ sung kiến thức kỹ năng mới. Bên cạnh đó có không ít trưởng nhóm được thay thế trong quá trình hoạt động của dự án nhưng lại không hề được đào tạo tập huấn. Điều này là một bất cập mà dự án chưa tính đến
- Dự án chưa đặt ra mục tiêu nhân rộng mô hình trong khi nhiều đối tượng có nhu cầu được tham gia. Do vậy, gây khó khăn cho quá trình triển khai mở rộng mô hình. Sau khi dự án kết thúc quá trình chỉ đạo kiểm tra, giám sát Hội phụ nữ các cấp có phần lơi lỏng, không được như trong thời gian dự án khởi động.
- Các hình thức sinh hoạt nhóm/câu lạc bộ hiện đang có nguy cơ rơi vào tình trạng đơn điệu, bị lặp lại theo các chuyên đề cố định. Điều này sẽ gây sự nhàm chán, thiếu động lực cuốn hút các thành viên tham gia sinh hoạt.
- Mức vay vốn của ngân hàng Chính sách xã hội còn thấp, trong khi đó nhiều hội viên có nhu cầu và khả năng vay ở mức lớn hơn để có thể đầu tư có hiệu quả hơn. Đồng thời, phần lớn các hội viên còn thiếu kỹ năng tiếp cận vay vốn ở các ngân hàng thương mại khác.
- Kết quả hoạt động của dự án cho thấy việc đặt ra mục tiêu về tính bền vững của dự án là hết sức quan trọng và cần thiết. Dự án do UNFPA tài trợ là một dự án lớn, tuy nhiên vấn đề tính bền vững của mô hình lại chưa được nghiên cứu và quan tâm một cách thỏa đáng. Điều này đã làm lãng phí các nguồn lực đầu tư của dự án, làm hạn chế các hiệu quả tác động mà đáng lẽ ra có thể đạt được lớn hơn rất nhiều.
- Sự chỉ đạo các cấp Hội, ban dự án tiến hành tổng kết hoạt động kết thúc của dự án, đề ra phương hướng hoạt động cho giai đoạn tiếp theo là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên, vì nhiều lý do trong thực tế sự chỉ đạo này còn bị buông lỏng. Do vậy, việc thống nhất chỉ đạo các cấp xã, huyện tổ chức tổng kết đánh giá những kết quả đạt được và chưa đạt được là rất cần thiết.

Tóm lại, để cho mô hình hoạt động có hiệu quả, phát triển không ngừng và bền vững các Bộ, ngành, đoàn thể có liên quan cần thường xuyên tổ chức hoạt động rà soát, đánh giá, nghiên cứu các mô hình truyền thông lồng ghép và kịp thời đưa ra những biện pháp can thiệp hỗ trợ theo chu kỳ. Trước mắt, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam cần phối hợp tổ chức hội thảo công bố kết quả đánh giá, đồng thời tạo ra diễn đàn cho các địa phương trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình triển khai mô hình trong giai đoạn tài trợ của UNFPA và sau khi dự án UNFPA kết thúc.

 

* Nghiên cứu viên Viện Xã hội học và Tâm lý LĐQL, Học viện CTQG Hồ Chí Minh