PHỤ NỮ THAM GIA CHÍNH TRỊ
VŨ NGỌC BÌNH*

 

*Đã bước sang thế kỷ 21 mà phụ nữ trên khắp thế giới vẫn còn phải chịu đựng và tiếp tục đấu tranh chống lại các hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới. Ở hầu như tất cả mọi nơi và trong các nền văn hoá dưới rất nhiều hình thức khác nhau, phụ nữ và trẻ em gái luôn là một trong những nhóm dân cư yếu thế, dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi. Bên cạnh đó, họ phải chịu đựng sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử trong pháp luật, chính sách quốc gia ở nhiều nước cũng như trong phong tục tập quán ở nhiều nơi. Bị chi phối và thống trị của nam giới trong gia đình và ngoài xã hội, họ không được quan tâm bảo vệ, luôn phải chịu một địa vị thấp kém hơn so với nam giới và các em trai, chỉ bởi lý do họ là phụ nữ.
Mặc dù Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc đề ra mục tiêu đến năm 1995, trên thế giới có 30% phụ nữ được giữ các cương vị ra quyết định, tuy nhiên, đến năm 2001 mới chỉ có 7 quốc gia trên thế giới đạt tỷ lệ này và trên thực tế từ đó đến nay sự tham gia của phụ nữ vào các cấp chính quyền các cấp vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể mặc dù có tới 95 nước đã thực hiện những biện pháp bắt buộc hoặc tự nguyện để tăng sự tham chính của phụ nữ. Bên cạnh đó, phụ nữ chiếm ít nhất nửa số cử tri và việc bầu cử lãnh đạo được diễn ra ở hầu hết các nước.
Hiện tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí quản lý, ra quyết định và các cơ quan dân cử còn thấp, chưa tương xứng với khả năng và sự đóng góp của phụ nữ trong lực lượng lao động cũng như trong các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Thậm trí còn có vài nước không cho phụ nữ quyền bầu cử và ứng cử.
Theo số liệu (tính đến tháng 30 tháng 4 năm 2007) của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tổng hợp từ 189 nước trên thế giới, tỷ lệ nữ nghị sỹ quốc hội trên thế giới hiện nay mới chỉ đạt khoảng 17,1% và chỉ 19 nước có tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội 30% trở lên trong khi ở 59 nước thì tỉ lệ này chưa đến 10% và còn 10 nước hiện vẫn không có nữ đại biểu quốc hội.
Hiện trong số 20 nước đạt chỉ tiêu từ 30% số nghị sỹ quốc hội là phụ nữ, 4 nước Bắc Âu có tỷ lệ cao là Thụy Điển (47,3%), Phần Lan (42%), Na Uy (37,9%), và Đan Mạch (36,9%).
Ngoài Ruanđa dẫn đầu với 48,8% và Côxtarica (38,6%), các nước đang phát triển có tỷ lệ cao từ hơn 30% trở lên là Cu Ba (36%), Achentina (35%), Môdămbích (34,8%), Nam Phi (32,8%), Guana (29%), Brunđi (30,5%) và Tandania (30,4%). Một kinh nghiệm của 17 trong số 20 nước có tỷ lệ nữ cao trong quốc hội là quy định tỷ lệ nữ (quotas) trong hiến pháp (constitutional quotas), đưa vào trong luật bầu cử (election law quotas) và trong quá trình tranh cử có đa đảng (party quotas). 30 nước khác lại quy định tỷ lệ nữ ở các cấp địa phương, đặc biệt ở những nước châu Phi và Mỹ latinh.
  
Khu vực/nước
Tỷ lệ nữ nghị sỹ (%)
Toàn thế giới
17,1
Châu Âu (gồm cả các nước Bắc Âu)
19,8
Châu Âu (không gồm các nước Bắc Âu)
17,7
Các nước Bắc Âu
41,7
Châu Mỹ
20
Vùng Xahara châu Phi
17,4
Châu Á
16,5
Các nước khu vực Thái Bình Dương
12,4
Các nước ả rập
9,8
Niudilơn
32,2
Apganixtan
27,3
Việt Nam
25,76
Irắc
25,5
Đông Timo
25,3
Lào
25,2
Xingapo
24,5
Trung Quốc
20,3
Mỹ
16,3
Philipin
15,3
Bănglađét
15,1
Hàn Quốc
13,4
Inđônêxia
11,3
Cămpuchia
9,8
Nga
9,8
Malaixia
9,1
Nhật Bản
9,4
Thái Lan
8,7
Ấn Độ
8,3
Iran
4,1
 

Năm
1945
1955
1965
1975
1985
1995
2007
Số quốc hội trên thế giới
26
61
94
115
136
176
 
Tỷ lệ nữ nghị sỹ (%)
3
7,5
8,1
10,9
12
11,6
17,1
 
 
 
 
 
 
 
 

Số nghị sỹ quốc hội trong năm 5 năm qua tăng lên 17% trong khi số nữ quan chức quốc hội lại giảm đi từ 10,7% xuống còn 8,3%. 
Số phụ nữ ở vị trí đứng đầu nhà nước hay chính phủ cũng lại giảm trong thời gian 1945-1995, từ 4,7% năm 2000 xuống 4,2%. Hiện trong số 198 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, chỉ có 11 nữ nguyên thủ quốc gia gồm 3 nữ hoàng (các nước Anh, Hà Lan và Đan Mạch), 8 tổng thống (Chi Lê, Phần Lan, Ailen, Itxraen, Etxtônia, Libêria, Philipin, Thụy Sỹ) và 5 thủ tướng (Đức, Niudilơn, Môdămbích, Saotômê và Principê và Giamaica).
Tỷ lệ nữ bộ trưởng cũng rất thấp (trong năm 2005 có 858 nữ bộ trưởng ở 183 nước, chiếm chỉ 14,3% tổng số và hiện nay là 863 nữ bộ trưởng) trong khi đó có 19 chính phủ không có nữ bộ trưởng. Đến tháng 3 năm 2006, chỉ có 3 nước trên thế giới là Chilê, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển và Pháp có số bộ trưởng nữ ngang bằng số bộ trưởng nam. Tuy nhiên, nữ bộ trưởng ở hầu hết các nước trên thế giới thường về các lĩnh vực “truyền thống” như y tế, giáo dục, trẻ em/phụ nữ, xã hội, mà rất ít ở các lĩnh vực như kinh tế/tài chính, quốc phòng, an ninh… mặc dù có tăng lên trong những năm gần đây. Các nước thuộc khu vực Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Đông Âu có tỷ lệ phụ nữ tham gia công tác quản lý cao hơn các khu vực Đông Á, Nam Á và Trung Đông. Một nghiên cứu của Liên đoàn nhà báo quốc tế cho thấy 1/3 số nhà báo ngày nay là nữ song phụ nữ chỉ chiếm 3% lãnh đạo các cấp ở các vị trí trong giới truyền thông báo chí (kể cả trong báo chí truyền thống là các báo in, báo viết và báo nói/báo hình cũng như trong các loại hình mới xuất hiện như báo điện tử). Riêng trong ngành công nghiệp viễn thông ở châu Âu trong năm 2001, phụ nữ cũng chỉ chiếm 9% các vị trí quản lý, lãnh đạo.
Trong số đại sứ các quốc gia thành viên tại Liên Hợp Quốc ở New York (Mỹ), chỉ có 9,3% là nữ và chưa đến 10% số thị trưởng trên thế giới là nữ. Tỷ lệ phụ nữ là lãnh đạo các trường đại học, viện nghiên cứu lớn rất thấp, kể cả ở những nước có tỷ lệ cao phụ nữ trong quốc hội. Ngày càng có nhiều phụ nữ tốt nghiệp đại học với kết quả thường cao hơn nam giới song lại khó kiếm công ăn việc làm hơn nam giới, ít ở vị trính lãnh đạo trong lĩnh vực kinh tế như nam giới và có ít kinh phí để nghiên cứu hơn so với nam giới. Một số nước như Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Estônia, Hi Lạp và Thụy Điển đã quy định chỉ tiêu tăng tỷ lệ lãnh đạo nữ trong lãnh đạo các công ty, tập đoàn lên 40%. Mặc dù tỷ lệ phụ nữ gia tăng đáng kể trong những năm qua trong các ngành y, luật và cơ khí ở các nước phát triển song số nữ ở những vị trí lãnh đạo cũng rất thấp, như số luật sư nữ chiếm 25%-30% song chỉ 5%-15% làm công tác pháp chế trong các công ty, tập đoàn. Phụ nữ thường làm các công việc có địa vị thấp hơn trong xã hội và con số phụ nữ làm chủ lao động trong các lĩnh vực thường thấp hơn nam giới. Tỷ lệ này cũng chỉ ít hơn 1/3 trong năm 2001 ở những nước phát triển như Hà Lan, Na Uy, Phần Lan và Canađa.      
Ngay ở bộ máy Liên Hợp Quốc hiện cũng chỉ có 37,1% số cán bộ chuyên môn là nữ trong mục tiêu đề ra là phấn đấu thực hiện tỷ lệ 50% vào năm 2000. Cho đến nay vẫn chưa có cơ chế nào để thực hiện hiệu quả lời kêu gọi của Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh năm 1995 là có nhiều phụ nữ trong các vị trí cấp cao ở Liên Hợp Quốc. Trong số 18 thẩm phán của Tòâ án Hình sự quốc tế (ICC) được bầu trong năm 2003, có 10 người là phụ nữ.

Do đó để tăng cường và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong chính trị, các chính phủ cần tạo điều kiện và dành tỷ lệ nhất định cho phụ nữ trong các cơ quan dân cử cũng như trong các vị trí quản lý và ra quyết định. Các chính phủ cần có chính sách phù hợp để thu hút nữ thanh niên tham gia nhiều hơn trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, bản thân người phụ nữ cũng phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa sự tham gia của mình trong lĩnh vực chính trị và luôn phấn đấu thể hiện năng lực lãnh đạo của mình.

 

* Điều phối viên quốc gia Chương trình CEDAW Đông Nam Á - Quỹ Phát triển phụ nữ Liên Hợp Quốc (UNIFEM)