NHU CẦU VỀ THÔNG TIN VÀ DỊCH VỤ SỨC KHOẺ SINH SẢN/TÌNH DỤC CỦA VTN/TN TẠI TIỀN GIANG
 
                                                                                                                            PGS.TS. NGUYỄN THỊ THIỀNG*
 

*Cuộc khảo sát “Đánh giá nhanh về nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS/TD cho VTN/TN” tại tỉnh Tiền Giang được tiến hành trên 3 địa bàn: thành phố Mỹ Tho, huyện Cái Bè và huyện Châu Thành. Thông tin sử dụng trong bài viết này chủ yếu dựa vào phiếu thu thập thông tin đánh giá nhanh đối với VTN/TN từ 10-24 tuổi.
1. Nhu cầu về nội dung thông tin cần cung cấp

Đồ thị 1. Nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD của VTN/TN
tại những vùng khảo sát thuộc tỉnh Tiền Giang

Kết quả phỏng vấn nhanh 387 thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi cho thấy nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD cho thanh thiếu niên rất đa dạng, biến động theo độ tuổi và tình trạng đi học. Trên bình diện những thông tin thu được từ tổng thể mẫu (387 VTN/TN), có thể sắp xếp thứ tự nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS/TD VTN/TN như sau:

- Quan hệ khác giới, tình bạn tình yêu. Có tới 49,0% VTN/TN có nhu cầu được cung cấp thông tin về vấn đề này và đây cũng là vấn đề được nhiều người đề cập nhất.
- Quyền được cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD. Có tới 37,7% VTN/TN có nhu cầu được cung cấp thông tin về vấn đề này.
- Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới, với 35,9% VTN/TN có nhu cầu cung cấp thông tin này.
- Sự thay đổi tâm sinh lý ở lứa tuổi dậy thì là vấn đề 32,2% VTN/TN có nhu cầu.
- 31,8% VTN/TN có nhu cầu nhận thông tin về các vấn đề về tình dục ở tuổi VTN/TN.
- 30% VTN/TN có nhu cầu cung cấp thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD).
Điều đáng quan tâm là các vấn đề liên quan đến cơ chế mang thai, thụ thai, đặc biệt là thời điểm thụ thai lại có rất ít VTN/TN đề xuất nhu cầu được cung cấp thông tin. Kết quả của các nghiên cứu trước cho thấy: hiểu biết của VTN/TN về cơ chế mang thai, thụ thai và thời điểm dễ có khả năng mang thai là rất thấp[1]. Điều này cho thấy VTN/TN chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của các thông tin liên quan đến vấn đề này đối với sự phát triển sức khoẻ toàn diện, đặc biệt là chăm sóc SKSS ở cả hiện tại và tương lai.
Phân tích sự khác biệt theo nhóm tuổi của VTN/TN trong nhu cầu cung cấp thông tin về SKSS/TD cho thấy:
- Đối với nhóm 10-14 tuổi, nhu cầu cung cấp thông tin được xếp theo thứ tự sau: (1) Sự thay đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì; (2) Quyền được tiếp cận thông tin và dịch vụ; (3) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (4) Mang thai, thụ thai.
- Đối với nhóm 15-19 tuổi, nhu cầu cung cấp thông tin được xếp theo thứ tự sau: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Quyền được tiếp cận với thông tin và dịch vụ; (3) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (4) Sự thay đổi sinh lý ở tuổi dậy thì; (5) Các vấn đề tình dục ở tuổi vị thành niên; (6) Các bệnh LTQĐTD.
- Đối với nhóm 20-24 tuổi, các nhu cầu cung cấp thông tin được sắp xếp theo thứ tự sau: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Các bệnh LTQĐTD; (3) Các vấn đề tình dục ở tuổi vị thành niên; (3) Tránh thai và các biện pháp tranh thai (BPTT); (5) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (6) Quyền được tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS; (7) Mang thai và thụ thai.
Nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD cũng có những khác biệt nhất định giữa nhóm còn đang đi học và nhóm đã thôi học. Biểu hiện rõ nét nhất là nhu cầu được cung cấp các thông tin về quyền của VTN/TN trong tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS/TD, các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Việc xếp hạng cụ thể các nhu cầu như sau:
Nhóm đối tượng đang đi học: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Quyền của VTN/TN được tiếp cận với thông tin và dịch vụ SKSS; (3) Sự thay đổi sinh lý ở tuổi dậy thì; (4) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (5) Các vấn đề tình dục của vị thành niên; (6) Thụ thai và mang thai; (7) Tránh thai và các biện pháp tránh thai; (8) Sự thay đổi tâm lý ở tuổi dậy thì; (9) Phá thai.
Đối với nhóm đối tượng đã thôi học: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Các vấn đề về tình dục ở tuổi VTN; (3) Bệnh LTQĐTD; (4) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (5) Quyền của VTN được tiếp cận với thông tin và dịch vụ SKSS; (6) Tránh thai và các BPTT; (7) Thụ thai và mang thai; (8) Sự thay đổi sinh lý ở tuổi dậy thì; (9) Phá thai.
 

Bảng 1. Phân bố phần trăm VTN/TN
có các nhu cầu về thông tin, dịch vụ SKSS/TD phân theo nhóm tuổi
Các nội dung thông tin, dịch vụ
Nhóm tuổi
10-14
15-19
20-24
Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu
34,6
52,8
41,9
Quyền của VTN/TN được tiếp cận với thông tin và dịch vụ
36,4
40,1
28,2
Sự thay đổi sinh lý ở tuổi dậy thì
63,6
34,5
20,5
Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới
9,1
39
29,1
Các vấn đề về tình dục ở tuổi VTN/TN
0,0
33,7
29,9
Bệnh LTQĐTD
0,1
29,2
31,6
Tránh thai và các BPTT
9,1
9,7
29,1
Thụ thai và mang thai
18,2
5,6
22,4
Phá thai
0,0
4,9
19,7

Đồ thị 2: Nhu cầu cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD theo tình trạng đi học của VTN/TN

 

Số liệu trong đồ thị 3 cho thấy: sự khác biệt về nhu cầu cung cấp thông tin SKSS/TD giữa nam và nữ VTN/TN là không nhiều. Ta có thể tổng kết nhu cầu này như sau:
- Nam VTN/TN: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Quyền được tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS; (3) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (4) Sự thay đổi sinh lý ở tuổi dậy thì; (5) Các bệnh LTQĐTD; (6) Các vấn đề tình dục ở tuổi VTN.
- Nữ VTN/TN: (1) Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu; (2) Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; (3) Quyền được tiếp cận với thông tin và dịch vụ; (4) Các vấn đề tình dục ở tuổi VTN; (5) Các bệnh LTQĐTD.

Đồ thị 3. Phân bố VTN/TN theo nhu cầu
được cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD và theo giới tính

2. Nhu cầu về hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ
Theo số liệu điều tra, khảo sát đánh giá nhanh thì mô hình cung cấp thông tin về SKSS/TD được nhiều thanh thiếu niên ưa chuộng nhất là: Tờ rơi, tờ gấp (53,5%); Trung tâm tư vấn thanh niên (48,8%) và Tư vấn đường dây nóng (39,0%) (đồ thị 4).
Mặc dù, tỷ lệ VTN/TN lựa chọn các hình thức cung cấp thông tin có khác nhau, nhưng xu hướng chung về thứ tự ưu tiên đối với các hình thức cung cấp thông tin hoàn toàn không có sự khác biệt theo tuổi, giới tính và tình trạng đi học của VTN/TN. Có thể sắp xếp các mô hình can thiệp theo thứ tự ưu tiên sau đây:
(1) Sách báo tờ rơi; (2) Trung tâm tư vấn thanh niên; (3) Đường dây nóng, tư vấn qua điện thoại; (4) Câu lạc bộ, chiến dịch do thanh niên tự tổ chức; (5) Góc dịch vụ thân thiện; (6) Qua giáo dục viên đồng đẳng; (7) Qua mạng internet; (8) Nhóm sân khấu đóng kịch (xem số liệu bảng 2).

Đồ thị 4. Phân bố VTN/TN theo hình thức cung cấp thông tin về SKSS/TD ưa chuộng
 

Bảng 2. Phân bố phần trăm VTN/TN theo nhu cầu về hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD, theo giới tính, nhóm tuổi, tình trạng đi học
 
Hình thức cung cấp thông tin, dịch vụ
Giới tính
Nhóm tuổi
Tình trạng đi học
Nam
Nữ
10-14
15-19
20-24
Đang học
Thôi học
Qua sách báo tờ rơi
51,1
56,1
27,3
55,4
49,6
54,2
52,2
Trung tâm tư vấn thanh niên
46,8
51,6
45,6
47,6
50,4
51,4
41,1
Đường dây nóng, tư vấn qua điện thoại
33,3
45,2
0,0
38,6
41,9
41,4
34,6
Câu lạc bộ, chiến dịch do thanh niên tự tổ chức
30,8
43,9
36,4
38,2
31,6
40,6
30,1
Góc dịch vụ thân thiện
16,0
15,5
27,3
14,2
17,9
12,7
19,1
Giáo dục đồng đẳng
15,2
14,2
9,1
11,2
23,1
10,8
22,8
Qua trang web, internet
13,5
11,6
0,0
12,0
17,1
12,7
14,0
Các nhóm sân khấu đóng kịch
10,5
14,2
9,1
12,0
11,1
12,7
11,0
Quầy thuốc thân thiện
9,7
9,7
9,1
6,7
16,2
8,0
13,2
Khác
4,2
1,9
9,1
2,2
5,1
2,0
5,9

 
 
 
 
Kết luận
Nhu cầu về thông tin và dịch vụ SKSS/TD của VTN/TN ở tất cả các địa bàn được khảo sát đều rất lớn. Các em mong muốn nhận được tất cả các nội dung thông tin và dịch vụ về SKSS/TD. Đặc biệt, hầu hết VTN/TN đều mong muốn nhận thông tin về các quyền của mình trong tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS/TD. Đây được đánh giá là một trong những nội dung rất quan trọng trong chăm sóc SKSS/TD VTN/TN, song trên thực tế đây lại là vấn đề khá mới mẻ không những chỉ đối với VTN/TN Tiền Giang nói riêng mà còn đối với VTN/TN Việt Nam nói chung, thậm chí đối với các nhà lãnh đạo.
Nhu cầu về các nội dung thông tin SKSS/TD của VTN/TN có sự khác biệt theo từng lứa tuổi. VTN/TN ở độ tuổi nhỏ (10-14) thường muốn nhận thông tin về sinh lý tuổi dậy thì, quan hệ với bạn khác giới, tình bạn, tình yêu. Đối với các nhóm tuổi lớn hơn (15-19, 20-24), VTN/TN có thêm các nhu cầu được cung cấp thông tin về các vấn đề tình dục VTN/TN; thụ thai, mang thai, tránh thai; các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS; Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới; các quyền về SKSS/TD của VTN/TN.
Nhu cầu về các nội dung thông tin SKSS/TD của VTN/TN cũng có sự khác biệt giữa nam và nữ. Bên cạnh những kiến thức chung, VTN/TN nam còn cần được cung cấp thêm các kiến thức chuyên sâu hơn về vai trò, trách nhiệm của nam giới trong các vấn đề có liên quan đến tình dục, mang thai và các biện pháp tránh thai, các bệnh LTQĐTD… Trong khi, VTN/TN nữ giới lại cần được cung cấp các thông tin kiến thức chuyên sâu liên quan đến vệ sinh phụ nữ, về cách thức ứng xử với bạn trai trong quan hệ tình cảm, về vấn đề mang thai ngoài ý muốn, hậu quả và cách phòng tránh…
Hầu hết VTN/TN ở tất cả các địa bàn được được khảo sát đều mong muốn nhận thông tin và dịch vụ SKSS/TD qua những hình thức đảm bảo độ tin cậy, tính an toàn, bảo mật. Hình thức cung cấp tài liệu, sách, báo, tờ rơi có các nội dung về SKSS/TD để các em tự tìm hiểu được phần lớn VTN/TN ưa thích. Rất nhiều VTN/TN có nhu cầu được nhận thông tin, dịch vụ SKSS/TD bằng hình thức tư vấn qua điện thoại; cung cấp thông tin, dịch vụ SKSS/TD qua các trung tâm tư vấn thanh niên, các góc dịch vụ thân thiện, sinh hoạt câu lạc bộ.
Khu vực sinh sống của thanh thiếu niên cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS của VTN/TN. Một số hình thức cung cấp thông tin hiện đại như cung cấp thông tin qua mạng internet, qua các nhóm sân khấu... là nhu cầu của một bộ phận VTN/TN ở khu vực thành thị. Còn các hình thức cung cấp thông tin về SKSS/TD theo mô hình truyền thống qua các hoạt động của chi đoàn thanh niên ở khu dân cư, qua giáo dục viên đồng đẳng lại là nhu cầu của một bộ phận VTN/TN ngoài nhà trường ở khu vực nông thôn.
 

 


 

*Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân
[1] Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Bích Ngọc: Điều tra đầu kỳ, chương trình “Sáng kiến chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho Vị Thành Niên và Thanh niên Việt Nam” (RHIYA Việt Nam, 2004) và Điều tra cuối kỳ chương trình RHIYA Việt Nam 2006