PHÁT BIỂU CỦA THỨ TRƯỞNG NGUYỄN VIẾT TIẾN

TẠI HỌP BÁO HƯỞNG ỨNG NGÀY DÂN SỐ THẾ GIỚI 11/7/2012


Năm nay, chúng ta cùng cộng đồng quốc tế kỷ niệm Ngày Dân số Thế giới trong bối cảnh dân số thế giới đang tiếp tục gia tăng, nhưng việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại. Theo thông tin từ Quỹ Dân số Liên hợp quốc, mỗi năm thế giới có 358.000 phụ nữ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến thai nghén; 10-15 triệu phụ nữ phải gánh chịu các căn bệnh hoặc tàn tật nặng do biến chứng trong quá trình thai nghén và sinh nở gây ra; 15% phụ nữ có thai trải qua một lần biến chứng có nguy cơ gây tử vong trong khi sinh nở. Hiện có khoảng 222 triệu phụ nữ ở các nước đang phát triển muốn tránh thai, có kế hoạch mang thai nhưng lại thiếu các phương tiện tránh thai hiện đại; gần một nửa số phụ nữ sinh con mà không có sự trợ giúp của y tá, nữ hộ sinh hoặc bác sỹ; có 19 triệu ca nạo phá thai không an toàn diễn ra hàng năm và khoảng 47.000 phụ nữ tử vong do nạo phá thai không an toàn và hàng triệu người khác phải gánh chịu các biến chứng. Để tăng cường cam kết của các quốc gia trong việc thúc đẩy thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), đặc biệt là mục tiêu 5a và 5b “Cải thiện sức khỏe bà mẹ và Tăng cường phổ cập tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, tồn tại của việc CSSKSS cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở các nước đang phát triển, Ngày Dân số Thế giới năm nay đã được Quỹ Dân số Liên hợp quốc phát động trên toàn cầu với chủ đề “Tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về dân số - phát triển của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, luật pháp, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác dân số, sức khỏe sinh sản (DS-SKSS), đặc biệt là sau 10 năm thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam và Chiến lược quốc gia về Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010, công tác DS-SKSS đã đạt những kết quả quan trọng góp phần đáng kể vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, quyền năng cho phụ nữ. Xu thế giảm sinh được duy trì và mục tiêu đạt mức sinh thay thế đã được thực hiện; chất lượng dân số được nâng lên; sức khỏe sinh sản được cải thiện (đến năm 2009, tỷ số chết mẹ giảm xuống còn 69/100 000 trẻ sinh ra sống, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm xuống còn 16%o; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn 18,9%, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng lên 78%); mạng lưới dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được củng cố và phát triển (đến nay 98% số xã đã có Trạm Y tế, 55,5% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 65,9% số Trạm Y tế xã có bác sĩ, 93% số Trạm Y tế  có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 64,4% thôn, bản có nhân viên y tế, 100% thôn, bản, tổ dân phố có cộng tác viên dân số); nhận thức, thái độ, hành vi về DS-SKSS của các cặp vợ chồng, nam giới, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai, vị thành niên/thanh niên (VTN/TN) đã có chuyển biến tích cực.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu, kết quả quan trọng nhưng công tác CSSKSS của nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cần tập trung giải quyết: Tai biến sản khoa và tử vong mẹ vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng, miền; khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh còn hạn chế ở khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa; phụ nữ sinh đẻ không có cán bộ được đào tạo đỡ còn khá phổ biến ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp.

Trong những năm tới, số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ vẫn tiếp tục tăng (đạt xấp xỉ 27 triệu người vào năm 2020), nên nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT), đặc biệt là các biện pháp tránh thai hiện đại sẽ tiếp tục tăng và luôn giữ ở mức cao. Hầu hết phương tiện tránh thai (PTTT) phải nhập khẩu, trong khi nguồn quốc tế viện trợ PTTT không còn.

Tỷ lệ phá thai, bao gồm cả phá thai ở VTN/TN còn cao. Tình trạng phá thai lặp lại còn khá phổ biến, phá thai không an toàn không ít; tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát còn khá cao, nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cho người vô sinh còn hạn chế. Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, HIV và ung thư đường sinh sản còn cao. Việc khám, phát hiện, điều trị, theo dõi và tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm đúng mức. Việc sàng lọc và phát hiện sớm ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng rãi. Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV từ chồng và bạn tình có xu hướng gia tăng.

Tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai, mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục ở VTN/TN có xu hướng gia tăng. Hiểu biết, hành vi về SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD) của VTN/TN còn nhiều hạn chế. Kiến thức, thái độ, hành vi về DS-SKSS trong cộng đồng và cán bộ y tế cũng còn hạn chế. Dịch vụ CSSKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa sẵn có, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng.

Tình dục được coi là vấn đề tế nhị, nhạy cảm và còn hạn chế trao đổi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhận thức về giới trong cộng đồng rất hạn chế, thiếu hiểu biết về ảnh hưởng của bạo lực tình dục tới SKSS, SKTD của nạn nhân, về mối quan hệ giữa lạm dụng chất gây nghiện và bạo hành giới, quan niệm lạc hậu về vai trò của nam và nữ, phụ nữ thiếu hiểu biết về quyền bình đẳng.

Tiếp tục khẳng định cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các mục tiêu dân số - phát triển và các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Chiến lược toàn cầu về sức khỏe bà mẹ và trẻ em mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết vào tháng 5 năm 2010. Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 và đang được triển khai đồng bộ trong cả nước với các mục tiêu cao cả là “Nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em; khống chế tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh; đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ, duy trì mức sinh thấp hợp lý; tận dụng giai đoạn cơ cấu dân số vàng; thích ứng với giai đoạn già hóa dân số; cải thiện sức khỏe sinh sản, kể cả SKSS VTN/TN; tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; cải thiện chất lượng giống nòi; nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người”.

            Để thiết thực hưởng ứng lời kêu gọi của Quỹ dân số Liên hợp quốc nhân Ngày Dân số thế giới 11/7 năm nay, đề nghị các phóng viên, biên tập viên, các cơ quan báo chí tập trung tuyên truyền về chủ đề, các thông điệp của Ngày Dân số Thế giới 11/7/2012; hội nghị thượng đỉnh về KHHGĐ tại London vào tháng 7/2012; các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác DS-SKSS giai đoạn 2011-2020; các mô hình, điển hình trong công tác DS-SKSS…. Đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ cho các cặp vợ chồng, nam giới, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và các nhu cầu về SKSS khác chưa được đáp ứng.

            Thay mặt lãnh đạo Bộ Y tế, tôi trân trọng cảm ơn sự phối hợp, hỗ trợ nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của các bộ, ban ngành, đoàn thể Trung ương, các cơ quan báo chí trong và ngoài nước đối với công tác DS-SKSS trong những năm qua. Trân trọng cảm ơn Quỹ Dân số Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế đã và đang giúp đỡ Việt Nam thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn công tác DS-SKSS. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, hưởng ứng của  các quý vị trong tương lai vì một nước Việt Nam phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh, thịnh vượng.

 

Liên kết