TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 6 THÁNG ĐẦU NĂM

VÀ NHIỆM VỤ 6 THÁNG CUỐI NĂM 2012


I.       TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 6 THÁNG ĐẦU NĂM

1. Giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán kinh phí

Tại địa phương: Tính đến ngày 30/6/2012, có 17/63 tỉnh báo cáo về việc giao chỉ tiêu kế hoạch Chương trình MTQG DS-KHHGĐ năm 2012. Chỉ có 5/17 tỉnh được UBND tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012; 14/17 tỉnh đã được UBND tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch. Hiện nay vẫn còn 46/63 tỉnh chưa được UBND tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách chi Chương trình MTQG năm 2012.

Tại Trung ương: Kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ năm 2012 được Bộ Y tế giao cho Tổng cục DS-KHHGĐ tại Quyết định số 2204/QĐ-BYT ngày 22/6/2012. Ngày 28/6/2012, Tổng cục DS-KHHGĐ có Quyết định số 160/QĐ-TCDS về việc giao kế hoạch hoạt động và dự toán kinh phí cho các đơn vị dự toán trực thuộc Tổng cục. Hiện nay, nguồn kinh phí này chưa về tới kho bạc nơi giao dịch cho nên hầu như các hoạt động trong kế hoạch năm 2012 mới chỉ trong giai đoạn chuẩn bị, chưa có kinh phí để triển khai.

2. Kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu

Do việc giao chỉ tiêu và kinh phí thực hiện Chương trình năm 2012 chậm nên kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch 6 tháng đầu năm 2012 thấp, các chỉ tiêu đều không đạt và ở mức thấp nhất so với cùng kỳ các năm kể từ năm 2006 đến nay, cụ thể như sau:

2.1. Mức giảm sinh

- Trong 5 tháng đầu năm, tổng số trẻ em sinh ra là 516.169 trẻ; so với cùng kỳ năm 2011 (454.626 trẻ) tăng 13,5% (61.543 trẻ). Chỉ có 3/63 tỉnh, thành phố có số trẻ sinh ra giảm so với cùng kỳ năm 2011 như: Đồng Tháp (381 trẻ), Gia Lai (47 trẻ), Tây Ninh (11 trẻ).

- Trong 5 tháng đầu năm, số trẻ em sinh ra là con thứ 3 trở lên là 49.955 trẻ; so với cùng kỳ năm 2011, số trẻ em sinh ra là con thứ 3 tăng 19,2% (8.033 trẻ). Có 10/63 tỉnh có số trẻ em sinh ra là con thứ 3 giảm như: Kiên Giang (132 trẻ), Gia Lai (127 trẻ), Lào Cai (80 trẻ), Trà Vinh (59 trẻ), Sơn La (12 trẻ)…

Dự tính số sinh năm 2012 là 1.390.000 trẻ, tăng 9% so cùng kỳ và đạt 80% kế hoạch (giảm 0,08‰); số trẻ em sinh ra là con thứ 3 trở lên khoảng 140.000 trẻ.

2.2. Tỷ số giới tính khi sinh, tỷ lệ sàng lọc trước sinh/sơ sinh

Theo báo cáo của địa phương, trong 5 tháng đầu năm 2012,  số trẻ sinh ra là 274.171 bé trai/241.998 bé gái, tương đương với 113 bé trai/100 bé gái. Dự tính cả năm 2012 tỷ số giới tính khi sinh là 112,5, không đạt kế hoạch năm 2012.

Theo báo cáo của địa phương, trong 5 tháng đầu năm 2012, số trẻ sinh sơ sinh được sàng lọc sơ sinh và số bà mẹ được sàng lọc trước sinh đạt khoảng 30% kế hoạch năm 2012 và thấp hơn cùng kỳ năm 2011. Dự tính cả năm 2012, số bà mẹ được sàng lọc trước sinh và số trẻ được sàng lọc sơ sinh đạt 100% kế hoạch năm.

2.3. Kế hoạch hoá gia đình

Theo báo cáo của 63 tỉnh/thành phố, trong 5 tháng đầu năm 2012, số đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai đều giảm so với cùng kỳ ở nhiều tỉnh, thành phố; đặc biệt là các biện pháp tránh thai lâm sàng như triệt sản, đặt vòng tránh thai, cấy thuốc tránh thai. Cụ thể là:

- Số đặt vòng tránh thai mới là 574.397 người, đạt 41,2% kế hoạch năm 2012; so cùng kỳ năm 2011 giảm 5,8% và hầu hết các tỉnh số đặt vòng giảm ở hầu hết các tỉnh. Dự tính cả năm 2012 sẽ có 1.320.000 đặt vòng tránh thai mới, đạt 95% kế hoạch năm.

- Số ca triệt sản là 8.740 người (nam là 933 người, nữ là 7.807 người) đạt 44,6% kế hoạch năm 2012; so cùng kỳ năm 2011 giảm 6% và có 38/63 tỉnh số thực hiện triệt sản giảm. Dự tính cả năm 2012 có 17.600 người triệt sản đạt 90% kế hoạch.

- Số người mới cấy thuốc tránh thai là 4.916 người, đạt 16,6% kế hoạch năm 2012; so cùng kỳ năm 2011, giảm 37,6% và có 49/63 tỉnh có số người mới cấy thuốc tránh thai giảm. Dự tính cả năm 2012 có 26.700 ca, đạt 90% kế hoạch.

- Số người sử dung bao cao su, thuốc uống tránh thai, thuốc tiêm tránh thai đạt khoảng 50% kế hoạch năm 2012 và thấp hơn cùng kỳ năm 2011.

2.4.  Đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng cục đã xây dựng và trình Lãnh đạo Bộ ban hành Danh mục trang thiết bị y tế cho đội lưu động thực hiện kế hoạch hóa gia đình tuyến huyện giai đoạn 2012-2015 (Quyết định số 711/QĐ-BYT ngày 09/3/2012). Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật về phương tiện tránh thai, danh mục các trang thiết bị phục vụ kế hoạch hóa gia đình.

Cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện tránh thai theo nhu cầu của 63 tỉnh, thành phố và các bộ, ngành. Trong 6 tháng, Tổng cục đã cung cấp 580.200 dụng cụ tử cung TCu 380A; 6.000 liều thuốc cấy tránh thai; 4.722.400 vỉ viên uống tránh thai Ideal; 823.600 vỉ viên uống tránh thai Naphalevo và 13.095.000 chiếc bao cao su. Thực hiện việc điều chuyển, điều phối kịp thời 82.062 lọ thuốc tiêm tránh thai từ 16 tỉnh, thành phố và đơn vị đến 27 tỉnh, thành phố khác có nhu cầu để sử dụng.

Bên cạnh việc tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ thường xuyên ở các tuyến kỹ thuật, Chiến dịch tăng cường truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, có mức sinh cao được các tỉnh chủ động vay mượn kinh phí để triển khai Chiến dịch đợt I/2012.

Tính đến ngày 30/5/2012 mới có 40/63 địa phương có báo cáo về việc xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến dịch, và có 28 tỉnh, thành phố chủ động tạm ứng kinh phí địa phương để triển khai chiến dịch đợt I năm 2012.

2.5. Tầm soát các dị dạng, bệnh, tật bẩm sinh và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Tầm soát các dị dạng, bệnh, tật bẩm sinh

- Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng cục đã xây dựng và hướng dẫn các địa phương triển khai các hoạt động như:

Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh để phát hiện sớm các dị tật, bệnh bẩm sinh tiếp tục được triển khai tại 51 tỉnh (trong đó duy trì 3699 xã/430 huyện, và mở rộng 2348 xã/35 huyện) với 3 Trung tâm khu vực thực hiện sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Thừa Thiên Huế;

Đề án can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Thalassemia tại cộng đồng do Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện tại Hòa Bình với 144 xã/7 huyện của Hòa Bình (mở rộng 88 xã) và thực hiện khám sàng lọc bệnh di truyền chuyển hóa và dị tật bẩm sinh như khiếm thính, bệnh tim bẩm sinh, các bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh tại 1 số tỉnh/thành phố;

Duy trì và mở rộng thực hiện mô hình can thiệp làm giảm tỷ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại 16 tỉnh với 160 xã, tăng thêm 1 tỉnh so với năm 2011 (Bình Phước với 34 xã);

Tiếp tục duy trì việc thực hiện Đề án nâng cao chất lượng dân số của dân tộc ít người tại 7 tỉnh đã triển khai là Lai Châu, Hà Giang, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định và Gia Lai (trong đó duy trì 111 xã và mở rộng 19 xã); Mô hình Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân tiếp tục được duy trì hoạt động tại 55 tỉnh,thành phố với 1.402 xã, phường.

- Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng cục DS-KHHGĐ đã tổng hợp và xây dựng phân phối 148 máy siêu âm xách tay cho 45 tỉnh/thành phố và Trung ương Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam để triển khai cung cấp dịch vụ sàng lọc và chẩn đoán trước sinh, dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh, huyện và cơ sở dịch vụ y tế thuộc hệ thống Hội Kế hoạch hóa gia đình. Thực hiện xây dựng các tiêu chí kỹ thuật về máy siêu âm phục vụ sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh ở 3 tuyến kỹ thuật là Trung ương, tỉnh, huyện để đấu thầu mua sắm trong năm 2012.

Các hoạt động về cơ cấu dân số:

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, trong 6 tháng đầu năm, Tổng cục đã tham mưu với Bộ trưởng Bộ Y tế tổ chức các đoàn công tác do Lãnh đạo Bộ làm trưởng đoàn đến và làm việc với Tỉnh ủy, Thành ủy và UBND 10 tỉnh, thành phố có tỉ số giới tính khi sinh cao nhất toàn quốc (từ 115 nam/100 nữ trở lên) (Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hòa Bình) để xác định nguyên nhân và các giải pháp, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn.

Tham mưu xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2012-2020 (tờ trình số 18/TT-BYT ngày 09/01/2012). Tiếp tục triển khai Đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh năm 2012 tại 5.685 xã của 43 tỉnh/thành phố (trong đó, duy trì 3.463 xã và mở rộng 2.222 xã); Triển khai và mở rộng đề án Tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại 23 tỉnh, thành phố có tỉ lệ người cao tuổi cao.

2.6. Truyền thông chuyển đổi hành vi

Hoạt động truyền thông tại các tuyến tiếp tục được duy trì và tăng cường trên các phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp tại cộng đồng với nhiều nội dung, hình thức phong phú và đa dạng, tập trung vào các nội dung của Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Chương trình hành động truyền thông chuyển đổi hành vi giai đoạn 2011-2015. Báo Gia đình & Xã hội đã thực hiện đúng tôn chỉ mục đích, thường xuyên tuyên truyền về chủ trương, định hướng công tác DS-KHHGĐ, mô hình tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ, phản ánh các điển hình làm tốt cũng như các khó khăn, vướng mắc của các địa phương trong quá trình thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên chuyên trang, bản tin chuyên đề, báo điện tử giadinh.net.vn... Tổng đài "Vì chất lượng cuộc sống” từng bước được củng cố, quảng bá và kiện toàn. Qua thời gian hoạt động thực tiễn cho thấy khách hàng ngày càng tăng và khẳng định đây là một kênh thông tin truyền thông hiệu quả, có chất lượng thu hút được đông đảo người dân quan tâm, hưởng ứng, đặc biệt là đội ngũ thanh thiếu niên và đối tượng trong độ tuổi sinh sản.

Trong 6 tháng đầu năm, Tổng cục DS-KHHGĐ đã phối hợp với 10 Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và 03 cơ quan truyền thông đại chúng thực hiện ký kết Chương trình phối hợp truyên truyền các nội dung về DS-KHHGĐ.

Thực hiện việc hướng dẫn Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh, thành phố, các ban ngành, đoàn thể Trung ương triển khai thực hiện công tác truyền thông giáo dục về DS-KHHGĐ năm 2012, đặc biệt là các hoạt động nhân ngày dân số thế giới 11/7, ngày dân số Việt Nam 26/12; tháng hành động quốc gia về Dân số và tổ chức liên hoan tuyên truyền viên dân số các cấp năm 2012. Xây dựng và hướng dẫn các tỉnh, thành phố về danh mục và tiêu chí kỹ thuật các trang thiết bị truyền thông…

3.4. Đào tạo, quản lý khoa học và hợp tác quốc tế

- Về đào tạo: Tổng cục DS-KHHGĐ đã phối hợp với Viện Công nghệ thông tin hoàn thiện phần mềm đào tạo bồi dưỡng cán bộ DS-KHHGĐ; nhập và thử nghiệm khai thác số liệu kế hoạch, kết quả đào tạo bồi dưỡng năm 2011, 2012 của các Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh. Phối hợp với Vụ Khoa học và Đào tạo hướng dẫn địa phương chuẩn bị triển khai chương trình bồi dưỡng đạt chuẩn viên chức dân số. Xây dựng và hoàn thiện chương trình và tài liệu đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ DS-KHHGĐ đạt chuẩn viên chức dân số; chương trình và bộ tài liệu đào tạo Sơ cấp và Trung cấp Dân số Y tế; tài liệu “Bồi dưỡng về lồng ghép giới trong công tác DS-KHHGĐ cho cán bộ cơ sở”; tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ DS-KHHGĐ 2 tháng... để chuẩn bị triển khai việc đào tạo theo kế hoạch năm 2012.

- Về quản lý khoa học: Tiếp tục thực hiện việc kiện toàn Hội đồng Khoa học, đảm bảo chuyển tải kịp thời các thông báo về nhiệm vụ kế hoạch công nghệ cho các Vụ đơn vị cá nhân để tham gia. Trong 6 tháng đầu năm đã thành lập Hội đồng khoa học Tổng cục nhiệm kỳ 2012-2017 ; Xây dựng và đăng ký 01 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước năm 2013 và 11 đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2013.

- Về hợp tác quốc tế: Tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế, trong 6 tháng đầu năm, Tổng cục đã phối hợp với UNFPA xây dựng đề cương chi tiết kế hoạch hợp tác giai đoạn 2012-2016; Tổ chức tiếp đón và làm việc với 03 đoàn chuyên gia quốc tế sang trao đổi kinh nghiệm về công tác DS-KHHGĐ bao gồm: Đoàn Nghị sĩ Quốc hội Ấn độ; Đoàn EU; Đoàn chuyên gia của WHO. Thực hiện việc ký chương trình hợp tác với với Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ Trung Quốc năm 2012.

3.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá

Trong 6 tháng đầu năm, Tổng cục đã thực hiện kiểm tra việc tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai phục vụ chương trình DS-KHHGĐ của Hội Kế hoạch hoá gia đình Việt Nam và Ban Quản lý Mô hình Tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai thuộc Tổng cục DS-KHHGD. Tổ chức các đoàn công tác do Lãnh đạo Tổng cục làm trưởng đoàn đi kiểm tra, giám sát thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2012 tại 39/63 tỉnh thành phố, giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác DS-KHHGĐ.

3.6. Công tác Thông tin và tư liệu dân số

Cung cấp kịp thời các số liệu về DS-KHHGĐ phụ vụ công tác chỉ đạo điều hành. Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng cục đã xây dựng và ban hành danh mục, tiêu chí kỹ thuật trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ kho dữ liệu điện tử về DS-KHHGĐ giai đoạn 2012-2015. Chỉ đạo, hướng dẫn Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ trong việc thực hiện báo cáo thống kê chuyên ngành và cập nhật số liệu biến động dân số vào kho dữ liệu điện tử các cấp. Duy trì tốt hệ thống văn phòng điện tử tại cơ quan Tổng cục đảm bảo hoạt động hiệu quả.

4. Quản lý, điều hành công tác DS-KHHGĐ

4.1. Xây dựng Đề án, văn bản quy phạm pháp luật

4.1.1. Các Đề án đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

- Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2012-2015 (Tờ trình số 06/TTr-BYT ngày 06/01/2012).

- Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2012-2020 (Tờ trình số 18/TTr-BYT ngày 09/01/2012).

 Ngoài ra Tổng cục tham mưu với Lãnh đạo Bộ trình Thủ tướng Chính phủ về việc thôi không tiếp tục xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án Tổng thể nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2012-2020 (Tờ trình số 208/TTr-BYT ngày 13 tháng 3 năm 2012) vì nội dung của Đề án liên quan đến thể chất, trí tuệ và tinh thần đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành trong các Quyết định phê duyệt chiến lược, Đề án, Chương trình… thuộc các lĩnh vực, ngành từ năm 2009 đến nay.

4.1.2. Các văn bản đang xây dựng theo kế hoạch

- Dự thảo Nghị định của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về Dân số, dự kiến trình vào cuối tháng 6 năm 2012, hiện đã đăng website của Bộ và đang tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành để hoàn thiện dự thảo.

- Dự thảo Quyết định của Thủ tướng chính phủ Quy định chế độ phụ cấp đối với cộng tác viên DS-KHHGĐ, dự kiến trình trong tháng 9/2012.

  - Phối hợp hoàn thiện dự thảo Thông tư liên tịch Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với việc thực hiện tiếp thị xã hội bao cao su và phương tiện tránh thai, thay thế Thông tư số 27 TC/VT ngày 23/5/1997 của Bộ Tài chính, dự kiến trình vào cuối tháng 6/2012.

- Phối hợp xây dựng dự thảo Thông tư Liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2012-2015. Dự kiến ban hành sau khi Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

4.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy

- Cấp tỉnh, 63/63 tỉnh đã kiện toàn và từng bước ổn định Chi cục DS-KHHGĐ cấp tỉnh theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 05/2008/TT-BYT. Có 7 tỉnh thành lập và duy trì hoạt động của Trung tâm Tư vấn, dịch vụ DS-KHHGĐ là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ với 45 biên chế.

Tính đến ngày 31/5/2012, tổng số chỉ tiêu biên chế được phân bổ của 63 Chi cục DS-KHHGĐ là 1.181 người, bình quân 18,6 người/1 Chi cục. Tổng số cán bộ hiện có là 1.127 người trong đó gồm 910 biên chế và 217 hợp đồng.

- Cấp huyện, 62/63 tỉnh thành lập Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện. Các Trung tâm đã từng bước triển khai chức năng và nhiệm vụ được giao. Một số tỉnh, có mô hình tổ chức khác với hướng dẫn tại Thông tư số 05/2008/TT-BYT.

Tính đến ngày 31/5/2012, tổng số chỉ tiêu biên chế sự nghiệp được phân bổ của Trung tâm DS-KHHGĐ huyện của 62 tỉnh là 4.382 người, hiện có 4.142 người, bao gồm 3.564 biên chế và 578 hợp đồng; Có 1.888 viên chức đã được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BYT-BTC-BNV.

- Cấp xã, đa số làm việc tại Trạm Y tế xã theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Cán bộ DS-KHHGĐ xã là viên chức của Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện, làm việc tại UBND xã gồm Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Bạc Liêu, Gia Lai, Đắk Nông, Đà Nẵng..

Tính đến hết 31/5/2012, có 46/36 tỉnh đã giao 7176 chỉ tiêu biên chế sự nghiệp làm công tác DS-KHHĐ cấp xã trong đó số đã được tuyển dụng là 4.429 người; Có 3.255 viên chức đã được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề theo Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BYT-BTC-BNV.

-             Cả nước còn có 174.208 cộng tác viên DS-KHHGĐ đang tham gia công tác DS-KHHGĐ tại tổ dân, thôn, ấp, phum, sóc, bản làng

5. Nguyên nhân của việc đạt kết quả thấp trong 6 tháng đầu năm 2012

5.1. Nguyên nhân khách quan:

Năm 2012 là năm nhâm thìn, năm rồng, theo tín ngưỡng dân gian là năm đẹp để sinh con và nhất là sinh con trai.

5.2. Nguyên nhân chủ quan:

a) Việc giao chỉ tiêu và kinh phí các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012 chậm, Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ Tài chính đến giữa tháng 5 năm 2012 mới giao chỉ tiêu, vốn, dự toán chi Chương trình mục tiêu quốc gia. Đến nay nội dung của các dự án, đề án, Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015 chưa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

b) Bộ máy tổ chức của ngành DS-KHHGĐ chưa hoàn thiện, hiện có 42,4% xã đã tuyển viên chức làm công tác DS-KHHGĐ. Vẫn còn tới 57,6% số cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ xã và 174.000 cộng tác viên dân số chỉ hưởng phụ cấp từ Chương trình mục tiêu quốc gia, mà 6 tháng đầu năm chưa được nhận phụ cấp, nên một số cán bộ, cộng tác viên đã nghỉ việc.

Mặc dù việc giao kinh phí không kịp thời, nhưng trong 6 tháng đầu năm, một số Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh, thành phố đã chủ động tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương hỗ trợ, cho vay ngân sách để thực hiện các nội dung kế hoạch năm 2012. Nhất là việc chủ động, thống nhất điều phối các nguồn lực hiện có như kinh phí hành chính và các nguồn khác để chi phí cho việc thực hiện các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Nỗ lực của các cộng tác viên, cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ trong 6 tháng đầu năm 2012 là rất đáng ghi nhận, nhất là trong điều kiện nguồn ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia chưa kịp thời, cơ chế quản lý, định mức chi tiêu còn nhiều bất cập, chưa phù hợp.

Để hạn chế những tác động của việc giao kinh phí chậm, tạo sự thống nhất trong việc thực hiện cũng như rút kinh nghiệm triển khai kế hoạch năm 2011, Tổng cục DS-KHHGĐ đề nghị Lãnh đạo Bộ quan tâm chỉ đạo, yêu cầu Sở Y tế các tỉnh, thành phố cần nghiêm túc thực hiện các nội dung tại công văn số 1322/BYT-TCDS ngày 14/3/2012 về hướng dẫn kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình; không áp dụng các hướng dẫn khác với công văn số 1322/BYT-TCDS của Bộ Y tế và Quyết định 2406/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 2012

1. Mục tiêu

 Tập trung chỉ đạo điều hành, đẩy mạnh triển khai các hoạt động của 3 dự án và 1 Đề án của Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ và các hoạt động khác trong năm 2012; phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu giảm tỷ lệ sinh 0,1‰; các chỉ tiêu về tỷ số giới tính khi sinh, tỷ lệ sàng lọc trước sinh, tỷ lệ sàng lọc sơ sinh, tổng số người mới sử dụng biện pháp tránh thai đã được giao trong 2012.

2. Các giải pháp và hoạt động chủ yếu

2.1. Đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ KHHGĐ

Thực hiện việc mua, bảo quản, vận chuyển và cung cấp phương tiện tránh thai bao gồm cả phương tiện tránh thai miễn phí và thực hiện tiếp thị xã hội, bảo đảm đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng sử dụng theo kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012 bao gồm cả dự phòng cho quý I/2013. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện dịch vụ KHHGĐ và đảm bảo hậu cần phương tiện tránh thai tại các cấp, các tuyến. Vận hành có hiệu quả và tiếp tục nâng cấp, mở rộng hệ thống thông tin quản lý hậu cần các phương tiện tránh thai (LMIS), quản lý phương tiện tránh thai đến tuyến huyện nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho công tác quản lý, chỉ đạo điều phối kịp thời đáp ứng nhu cầu theo kế hoạch.

2.2. Hướng dẫn, đôn đốc theo dõi các địa phương, đơn vị thực hiện mô hình, giải pháp nâng cao chất lượng dân số, cơ cấu dân số

Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các hoạt động của đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh tại 43 tỉnh có tỉ số giới tính khi sinh trên 110nam/100nữ; mô hình can thiệp làm giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại 16 tỉnh; mô hình nâng cao chất lượng dân số của một số dân tộc ít người tại 7 tỉnh; mô hình mô hình tư vấn và khám tra sức khỏe tiền hôn nhân tại 55 tỉnh/thành phố; đề án sàng lọc sơ sinh và trước sinh của Bệnh viện phụ sản trung ương, Bệnh viện Từ Dũ, Trường Đại học Y Dược Huế và 51 tỉnh thành; đề án Tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại 23 tỉnh; các hoạt động can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh Thalassemia và 1 số bệnh di truyền chuyển hóa và dị tật bẩm sinh tại cộng đồng do Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện tại Hòa Bình và một số tỉnh, thành phố;

2.3. Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi

 Tổ chức thực hiện có hiệu qủa hoạt động tuyên truyền thông chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ ở các cấp theo các nội dung, đối tượng đã hướng dẫn; sản xuất, nhân bản và cung cấp sản phẩm truyền thông, sản phẩm truyền thông mẫu, túi truyền thông cho cơ sở. Cung cấp trang thiết bị truyền thông cho cấp xã theo kế hoạch; Tổ chức có hiệu quả chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ KHHGĐ đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn đợt II/2012. Phối hợp với tập đoàn viễn thông quân đội trong việc cung cấp và vận hành, quảng bá đầu số tổng đài và thực hiện việc tư vấn về DS/SKSS/KHHGĐ thông qua hệ thống tổng đài viễn thông 19008088 và qua hệ thống internet.

Tổ chức các sự kiện truyền thông, truyền thông tăng cường nhân ngày dân số thế giới 11/7, ngày dân số thế giới 26/12 và tháng hành động quốc gia về Dân số năm 2012. Tổ chức thi liên hoan tuyên truyền viên cơ sở năm 2012.

2.4. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu điện tử về DS-KHHGĐ

Tiếp tục duy trì, nâng cấp các modul phần mềm quản lý chuyên ngành MIS; thực hiện cập nhật biến động và hoàn thiện kho dữ liệu tại các cấp; thực hiện mua sắm, nâng cấp các trang thiết bị công nghệ thông tin và đào tạo, tập huấn cán bộ để vận hành kho dữ liệu điện tử. Tăng cường giám sát, kiểm tra, hỗ trợ kỹ thuật, thẩm định số liệu đảm bảo số liệu có độ chính xác, tin cậy cao phục vụ việc quản lý, điều hành công tác DS-KHHGĐ.

2.5. Củng cố tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ.

Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc tham mưu, đề xuất với cấp có thẩm quyền Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức và cán bộ của cơ quan chuyên trách làm công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở.  Xây dựng và trình ban hành các văn bản về chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ. Tăng cường đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ ở Trung ương và địa phương nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng quản lý, tổ chức thực hiện các lĩnh vực của công tác DS-KHHGĐ đối với số cán bộ mới tuyển dụng.

2.6. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và trình đề án, văn bản quy phạm pháp luật

- Tiếp tục hoàn thiện đề án đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như: Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về Dân số; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2012-2015; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2012-2020.

- Hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế thay thế Quyết định số 18/2008/QĐ-TTg ngày 29/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp đối với cộng tác viên DS-KHHGĐ.

- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng và trình ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn về quản lý và định mức chi phí tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai; Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ.

2.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực DS-KHHGĐ.

Tăng cường việc thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện việc vi phạm về tuyên truyền phổ biến các phương pháp tạo giới tính thai nhi và siêu âm chọn giới tính khi sinh dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại các tỉnh, thành phố. Kiểm tra chuyên đề đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ KHHGĐ, sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh; kiểm tra thường xuyên việc trong thực hiện công tác DS-KHHGĐ tại các tỉnh, thành phố.

 

Liên kết