BỘ TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ VIỆT NAM

VÀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM

TS. ĐOÀN MINH LỘC[*]; TS. DƯƠNG QUỐC TRỌNG[†]

CN. VÕ ANH DŨNG[‡];CN. NGUYỄN VĂN PHẨM[§]


1. Cơ sở về chất lượng dân số và bộ tiêu chí phản ánh

Khái niệm và vấn đề nâng cao chất lượng dân số (CLDS) được đề cập trên diễn đàn quốc tế tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (Cairô, Aicập) năm 1994 và được nhấn mạnh trong Tuyên bố Almaty (Kazakhstan) về dân số và phát triển năm 2004. Trên thực tế, nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước đang phát triển như Việt Nam đã đưa mục tiêu nâng cao CLDS vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nhấn mạnh tới vấn đề nâng cao CLDS trong giai đoạn 2011-2020 và chỉ rõ “CLDS là tập hợp những đặc điểm về năng lực của một quần cư, một cộng đồng, một đất nước được thể hiện qua hệ thống các chỉ báo: cơ cấu tuổi, thể lực, trí lực, mức sống và ý thức xã hội… trong việc thực hiện những chức năng xã hội nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của toàn bộ dân số nói chung và sự phát triển của chính bản thân mỗi gia đình, mỗi người dân nói riêng.” Việc xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá CLDS phản ánh sự phát triển nguồn lực đất nước là cần thiết cho việc đo lường, đánh giá và lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội toàn diện.

Từ năm 2000, đã có một số nghiên cứu đánh giá CLDS Việt Nam, hầu hết tập trung vào các thành tố: thể chất, sức khoẻ, trí tuệ, tinh thần, ý thức xã hội, chỉ số phát triển con người (HDI), trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề, đời sống văn hoá và gắn kết cộng đồng; nhân khẩu học; và các dịch vụ xã hội cơ bản.

2. Những nguyên tắc chủ yếu xác định các tiêu chí phản ánh CLDS

Nguyên tắc 1: Tiêu chí được lựa chọn phải phản ánh thực chất CLDS

Phản ánh thực chất CLDS có nghĩa là phản ánh trực tiếp các đặc trưng nói trên. Khi tiêu chí biến thiên, CLDS cũng thay đổi theo (có thể theo hướng tốt lên hoặc xấu đi). Thay đổi đồng biến theo hướng tốt lên có thể gọi là tác động tích cực. Trường hợp thay đổi nghịch biến theo hướng xấu đi, có thể xem là tác động tiêu cực.

Nguyên tắc 2: Khi không có được tiêu chí phản ánh trực tiếp, có thể xác định tiêu chí thay thế

Trong những trường hợp thiếu số liệu đối với các tiêu chí phản ánh trực tiếp, vẫn phải sử dụng các tiêu chí phản ánh gián tiếp để thay thế, ví dụ để phản ánh thu nhập của người dân khi tính Chỉ số phát triển con người HDI, lẽ ra người ta phải sử dụng tiêu chí tổng thu nhập quốc dân (GNI), nhưng vì thiếu số liệu về GNI bình quân đầu người (nhất là ở các quốc gia có trình độ thống kê chưa cao), đã sử dụng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người để thay thế, tức là coi GDP và GNI phản ánh CLDS như nhau.

Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính hướng đích của thông tin

Mục đích cuối cùng của việc xây dựng bộ tiêu chí thống kê nói chung là cung cấp công cụ thu thập số liệu đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của những người dùng tin (các nhà hoạch định chính sách, quản lý, nghiên cứu và những người dùng tin khác) đối với từng lĩnh vực kinh tế-xã hội cụ thể. Với nguyên tắc này, việc xây dựng bộ tiêu chí thống kê nhằm đảm bảo các thông tin yêu cầu hoặc các thông tin mong muốn về CLDS của những đối tượng dùng tin khác nhau sẽ được đáp ứng khi bộ tiêu chí thống kê được xây dựng.

Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính thống nhất

Đảm bảo tính thống nhất giúp cho việc thu thập các số liệu thống kê nhất quán, nhanh hơn và đảm bảo tính hệ thống. Sử dụng nguồn số liệu của trung ương (ưu tiên trước hết số liệu của ngành thống kê) là cần thiết để đảm bảo tính thống nhất. Chỉ chuyển sang sử dụng số liệu của các Bộ, ngành khi số liệu của cơ quan thống kê không đảm bảo và chỉ sử dụng nguồn số liệu địa phương khi các cơ quan  không có (trong trường hợp này phải xem xét kỹ tính thống nhất của phương pháp thu thập, phạm vi thu thập và cách tính toán, tổng hợp).

Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính chính thống của thông tin

Tính chính thống của thông tin được thể hiện bằng việc sử dụng các thống kê chính thức, các số liệu có “dấu đỏ” tức là những thông tin do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố theo quy định của pháp luật. Điều 25 Luật thống kê về thẩm quyền công bố thông tin thống kê đã nêu rõ quyền hạn công bố thông tin của các cấp hành chính. Những thông tin thống kê chính thức thường được lấy từ các báo cáo thống kê, các niên giám thống kê, các ấn phẩm thống kê, kể cả trên các mạng internet của các cơ quan thống kê, các cơ quan nhà nước và các cơ quan chuyên ngành có trách nhiệm công bố thông tin thống kê.

Nguyên tắc 6: Phân tổ tới cấp tỉnh

Tính toán chỉ số CLDS tổng hợp cho toàn quốc, các vùng và các tỉnh, thành phố đòi hỏi ngoài số liệu cả nước, các vùng, còn phải có số liệu của các tiêu chí thống kê tương ứng phân tổ tới cấp tỉnh.

Nguyên tắc 7: Sự phản ánh CLDS của các chỉ tiêu phải rõ ràng

Để phân tích tác động cũng như ảnh hưởng của tiêu chí được lựa chọn đối với CLDS, đòi hỏi tính tích cực hay tiêu cực phải thể hiện rõ ràng. Một tiêu chí vừa phản ánh tác động tích cực, vừa phản ánh tác động tiêu cực khi phân tích CLDS.

Nguyên tắc 8: Tiêu chí được chọn phải có trị số tốt nhất theo mong muốn

Nguyên tắc này rất quan trọng khi lựa chọn và xây dựng tiêu chí thống kê phản ánh CLDS, nhất là để phục vụ tính toán chỉ số tổng hợp. Mỗi tiêu chí thống kê được chọn cần phải có một mức “tối ưu” được xác định rõ ràng (cụ thể là trị số tối đa, trị số tối thiểu hoặc trị số tối ưu mong muốn).

Nguyên tắc 9: Khi lựa chọn tiêu chí cần đề cao ý nghĩa của độ biến thiên

Có những tiêu chí biết chắc chắn có ý nghĩa cao trong việc xác định CLDS ở nước ta, ví dụ: Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi được vào học lớp 1; Tỷ lệ xã có trạm y tế; Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện; Tỷ lệ hộ gia đình có ti-vi; Tỷ lệ dân sống trong vùng phủ sóng phát thanh; Tỷ lệ dân sống trong vùng phủ sóng truyền hình; Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã; Tỷ lệ xã có trường mẫu giáo; Tỷ lệ xã có trường PTCS... Trong giai đoạn phát triển hiện nay, hầu hết các tiêu chí đó đều được tất cả các tỉnh, thành phố phấn đấu đạt gần như 100% và dù có khác biệt thì cũng không nhiều giữa các địa phương, do vậy, khi phân tích, so sánh tác động của những tiêu chí này đối với CLDS ở nước ta sẽ không có ý nghĩa lớn, vì chúng đã trở thành những nhân tố “đương nhiên”, nơi nào cũng giống nhau. Cũng vì lý do đó, chúng không được ưu tiên lựa chọn vào bộ tiêu chí phản ánh CLDS, mặc dù các tiêu chuẩn về nguyên tắc lựa chọn đã đề cập đếu đáp ứng.

Nguyên tắc 10: Đề cao tính kinh tế khi lựa chọn chỉ tiêu

Nếu năm nào cũng thực hiện điều tra để thu thông tin, tổng hợp cho từng địa phương, toàn quốc thì tốn kém và phức tạp. Trong khi đó, hệ thống tổ chức thống kê của nước ta đã khá chặt chẽ từ cơ quan thống kê tập trung (quản lý ngành dọc từ trung ương xuống tới cấp huyện), cho tới các tổ chức thống kê bộ, ngành, các tổ chức thống kê thuộc các sở, ban, ngành cấp tỉnh, huyện, chưa kể hệ thống tổ chức thống kê cấp xã, hàng năm đã thu thập được không ít thông tin bằng chế độ báo cáo thống kê định kỳ, bằng các cuộc điều tra chọn mẫu cũng như các cuộc điều tra toàn diện, tổng điều tra và đã có hệ thống chỉ tiêu thống kê, như hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh-huyện-xã do Nhà nước ban hành, các hệ thống chỉ tiêu thống kê từng bộ, ngành xuyên suốt từ trung ương xuống địa phương.

3. Các tiêu chí phản ánh chất lượng dân số

Số nhóm thành tố

CLDS Việt Nam được cấu thành từ 5 thành tố:

- Thể chất và sức khoẻ: thể hiện năng lực về sức mạnh thể chất của một cộng đồng, trong đó có từng cá thể; một dân số có chất lượng cao phải là cộng đồng gồm các cá nhân có đầy đủ năng lực về sức mạnh thể chất, từng người khoẻ mạnh;

- Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề: Thể hiện năng lực về trí tuệ, thông qua trình độ học vấn cũng như tay nghề trong các hoạt động sáng tạo, sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế-xã hội; một dân số có chất lượng cao phải là cộng đồng gồm các cá nhân có đầy đủ năng lực về trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề;

- Tinh thần, đời sống văn hoá và gắn kết cộng đồng: Thể hiện năng lực về lối sống, văn hoá, quan hệ và cách ứng xử trong cộng đồng, đảm bảo cho cộng đồng có sự gắn kết và đó cũng là sức mạnh để đạt tới sự phát triển bền vững; một dân số có chất lượng cao là cộng đồng gồm các thành viên có đầy đủ sức mạnh tinh thần, văn hoá, có khả năng gắn kết và sự đoàn kết chặt chẽ; mọi người có sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau; có các quan hệ lành mạnh, tiến bộ.

- Các đặc trưng nhân khẩu học: Phản ánh các đặc trưng như mức sinh, chết; cơ cấu dân số, nhất là cơ cấu giới tính, độ tuổi, theo địa lý; một dân số có chất lượng cao là cộng đồng có cơ cấu hợp lý về đầy đủ các khía cạnh đảm bảo cho quá trình phát triển dân số và kinh tế-xã hội hài hoà, bền vững;

- Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản: Phản ánh khía cạnh hiệu quả của dân số: Một dân số có chất lượng cao là cộng đồng hoạt động có hiệu quả về kinh tế-xã hội, cũng như có sự tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Số lượng tiêu chí trong các nhóm thành tố

Dựa vào các nguyên tắc lựa chọn tiêu chí, đề tài đề xuất 17 tiêu chí thống kê phản ánh 5 thành tố của CLDS. Dấu (+) thể hiện quan hệ đồng biến; Dấu (-) thể hiện quan hệ nghịch biến; Dấu (*) thể hiện quan hệ hướng tâm; Max là trị số cực đại mong muốn; Min là trị số cực tiểu của tiêu chí;

(I). Các tiêu chí để tính chỉ số thành tố thể chất và sức khỏe

(1) Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=85 và Min=25 (như báo cáo HDI của LHQ); Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số và nhà ở tiến hành 10 năm một lần và Điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm.

(2) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (chiều cao/tuổi),(-): Ảnh hưởng tiêu cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Y tế.

(3) Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Y tế.

(4) Tỷ lệ người tàn tật (-): Ảnh hưởng tíêu cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Điều tra chọn mẫu 5 năm 1 lần của Tổng cục Thống kê;

(II). Các tiêu chí để tính chỉ số thành tố trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

(5) Tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi phổ thông (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Giáo dục Đào tạo và Điều tra dân số của Tổng cục Thống kê.

(6) Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đã qua đào tạo (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số và nhà ở tiến hành 10 năm/lần và Điều tra về lao động-việc làm hàng năm. 

            (III). Các tiêu chí để tính chỉ số thành tố tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng

(7) Tỷ lệ hộ dân cư đạt chuẩn văn hóa (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

(8) Số lượt người được phục vụ trong thư viện tính trên 1000 dân (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=1400 (lấy giá trị của tỉnh cao nhất nhân với tốc độ tăng bình quân năm giai đoạn 2000-2010) và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

(9) Tỷ lệ hộ dân cư có sử dụng tivi (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê.

(10) Số người có sử dụng Internet tính trên 100 dân (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ Thông tin Truyền thông, Báo cáo của các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê và Số liệu dân số của Tổng cục Thống kê.

            (IV). Các tiêu chí để tính chỉ số thành tố đặc trưng nhân khẩu học

(11) Tổng tỷ suất sinh (TFR),(*): Ảnh hưởng vừa tích cực vừa tiêu cực (Nếu TFR > 2,0 thì có ảnh hưởng tiêu cực, từ 2,0 trở xuống được xem có ảnh hưởng tích cực); Nguồn số liệu: Các cuộc điều tra chọn mẫu (mẫu kết hợp trong Tổng điều tra dân số và nhà ở, điều tra chọn mẫu biến động dân số hàng năm) và Hồ sơ hành chính (đăng ký hộ tịch, đăng ký dân số).

(12) Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh (*): Ảnh hưởng vừa tích cực vừa tiêu cực (Nếu tỷ số này > 106 thì có ảnh hưởng tiêu cực, từ 106 trở xuống được xem là có ảnh hưởng tích cực); Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số và nhà ở, Điều tra biến động dân số và KHHGĐ hàng năm và Số liệu thống kê hộ tịch hoặc tổng hợp từ tài liệu đăng ký dân số.

(13) Tỷ lệ dân số thành thị (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100 và Min=0; Nguồn số liệu: Tổng điều tra dân số tiến hành 10 năm một lần, Các dự báo dân số ngắn hạn hoặc dài hạn và Suy rộng kết quả điều tra mẫu về dân số.

(V). Các tiêu chí để tính chỉ số thành tố đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

(14) Thu thập bình quân đầu người một tháng (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=4.650.000 VNĐ (lấy giá trị lớn nhất nhân với tốc độ tăng bình quân năm giai đoạn 2000-2010: 7% năm) và Min=400.000 VNĐ (chuẩn nghèo 2010-2015); Nguồn số liệu: Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê.

(15) Tỷ lệ nghèo (-): Ảnh hưởng tíêu cực; Giá trị Max=100, Min=0; Nguồn số liệu: Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê.

(16) Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100, Min=0; Nguồn số liệu: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở và Khảo sát mức sống hộ dân cư của Tổng cục Thống kê.

(17) Tỷ lệ hộ dân cư dùng hố xí hợp vệ sinh (+): Ảnh hưởng tích cực; Giá trị Max=100, Min=0; Nguồn số liệu: Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê.

4. Kết quả tính toán thử nghiệm theo bộ tiêu chí

            Thu thập số liệu chính thức năm 2010 của 6 vùng kinh tế-xã hội và 63 tỉnh/thành phố theo bộ tiêu chí đề xuất và tính toán các chỉ số theo 2 phương pháp trung bình cộng và trung bình nhân giữa các nhóm thành tố. Phương pháp trung bình cộng có ưu điểm dễ tính toán và phù hợp với các nước, các vùng và các địa phương ở giai đoạn đầu phát triển. Phương pháp lấy thành tố đạt kết quả cao bù cho thành tố có kết quả thấp. Về lâu dài, để phát triển bền vững cần quan tâm đến tất cả các thành tố vì cần phải phát triển đồng đều các mặt. Khi đó, phương pháp trung bình nhân sẽ được ưu tiên vận dụng.

Cấp vùng:


Bảng . Kết quả tính chỉ số PQI theo trung bình cộng cho 6 vùng

 

Các nhóm thành tố

Chỉ số  PQI (Phương pháp trung bình cộng)

Thể chất và sức khỏe

Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng

Các đặc trưng nhân khẩu học

Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Đồng bằng sông Hồng

0.868

0.546

0.491

0.727

0.696

0.666

TD và MN phía Bắc

0.820

0.437

0.438

0.672

0.425

0.558

BTB và DH MT

0.838

0.465

0.466

0.689

0.578

0.607

Tây Nguyên

0.814

0.421

0.415

0.650

0.548

0.570

Đông Nam Bộ

0.884

0.491

0.498

0.858

0.824

0.711

ĐB sông Cửu Long

0.836

0.383

0.479

0.737

0.569

0.601

Toàn quốc

0.843

0.464

0.473

0.751

0.624

0.631

Bảng 2. Kết quả tính chỉ số PQI theo trung bình nhân cho 6 vùng

 

Các nhóm thành tố

Chỉ số  PQI (Phương pháp trung bình nhân giữa các nhóm)

Thể chất và sức khỏe

Trí tuệ,  học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng

Các đặc trưng nhân khẩu học

Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Đồng bằng sông Hồng

0.868

0.546

0.491

0.727

0.696

0.652

Trung du và miền núi phía Bắc

0.820

0.437

0.438

0.672

0.425

0.537

Bắc Trung Bộ và DH miền Trung

0.838

0.465

0.466

0.689

0.578

0.591

Tây Nguyên

0.814

0.421

0.415

0.650

0.548

0.551

Đông Nam bộ

0.884

0.491

0.498

0.858

0.824

0.687

ĐB sông Cửu Long

0.836

0.383

0.479

0.737

0.569

0.578

Toàn quốc

0.843

0.464

0.473

0.751

0.624

0.613

           


Kết quả tính toán theo 2 phương pháp cho các giá trị khác nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, thứ bậc sắp xếp không thay đổi. Vùng Đông Nam Bộ đứng thứ nhất với PQI tương ứng 0,711 và 0,687. Tiếp đó là Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và cuối cùng là vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

            2 thành tố “Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề” “Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng” ở các vùng hầu như đều có trị số dưới trung bình (dưới 0,5). Kết quả xếp hạng phù hợp với tình hình thực tế và nhìn chung có thể chấp nhận được.

Cấp tỉnh:

            Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nêu 6 tỉnh/thành phố có giá trị PQI cao nhất và 6 tỉnh có giá trị PQI thấp nhất theo phương pháp trung bình cộng. Trật tự xếp hạng trong phương pháp trung bình nhân có sự thay đổi không nhiều so với phương pháp trung bình cộng.


Bảng 3. Kết quả tính chỉ số PQI theo trung bình cộng, 6 tỉnh cao nhất

 

Các nhóm thành tố

Chỉ số  PQI (Phương pháp trung bình cộng)

Thể chất và sức khỏe

Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng

Các đặc trưng nhân khẩu học

Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

TP.Hồ Chí Minh

0.909

0.550

0.512

0.934

0.880

0.757

Đà Nẵng

0.887

0.606

0.532

0.897

0.809

0.746

Hà Nội

0.886

0.601

0.545

0.785

0.771

0.718

Cần Thơ

0. 873

0.415

0.701

0.887

0.637

0.703

Bà Rịa-Vũng Tàu

0.877

0.483

0.524

0.834

0.779

0.699

Quảng Ninh

0.844

0.571

0.529

0.840

0.685

0.694

Toàn quốc

0.843

0.464

0.473

0.751

0.624

0.631


Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ nhất với PQI 0,757, Đà Nẵng đứng thứ hai, Hà Nội (bao gồm Hà Tây cũ) đứng thứ ba. Trong tốp đầu, trị số các thành tố Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề” “Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng” chỉ ở “mức trung bình”. Trị số các thành tố “Thể chất và sức khỏe”“Các đặc trưng nhân khẩu học” đều đạt “mức tốt”. Trị số thành tố “Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản” đạt “mức khá”.

Trị số thành tố “Tinh thần,đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng” phụ thuộc vào các tiêu chí thành phần, trong đó có Tỷ lệ hộ dân cư đạt chuẩn văn hóa, mà tiêu chí này do các địa phương tự đánh giá. Có nơi tỷ lệ thấp, có nơi tỷ lệ cao. Trị số thành tố này của thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt 0,512 nhưng vẫn ở vị trí thứ nhất là nhờ các thành tố khác; còn Cần Thơ, với trị số thành tố này là 0,701 nhưng đứng thứ tư vì trị số các thành tố khác đều thấp hơn.


Bảng 4. Kết quả tính chỉ số PQI theo trung bình cộng, 6 tỉnh thấp nhất

 

Các nhóm thành tố

Chỉ số   PQI (Phương pháp trung bình cộng)

Thể chất và sức khỏe

Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng

Các đặc trưng nhân khẩu học

Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Lào Cai

0.796

0.409

0.407

0.600

0.363

0.515

Kon Tum

0.782

0.410

0.398

0.537

0.444

0.514

Sơn La

0.808

0.377

0.423

0.617

0.309

0.507

Điện Biên

0.802

0.363

0.362

0.594

0.255

0.475

Hà Giang

0.783

0.374

0.328

0.522

0.273

0.456

Lai Châu

0.790

0.343

0.305

0.562

0.213

0.443

Toàn quốc

0.843

0.464

0.473

0.751

0.624

0.631


            Trong số 6 tỉnh xếp ở cuối bảng, có 5 tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Nhìn chung đây là các tỉnh nghèo, trị số thành tố Đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản” ở mức thấp nhất cả nước. Trị số các thành tố Trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề” “Tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng” đều ở mức dưới trung bình.



[*] Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế.

[†] Tổng Cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế.

[‡] Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và tư liệu dân sô, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế.

[§] Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Quan hệ Quốc tế, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch Đầu tư.

 

Liên kết