BỆNH BÉO PHÌ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ

                                                                                     NGUYỄN THANH AN*


         Hiện nay, bệnh béo phì đang trở thành một vấn nạn toàn cầu. Trên thế giới, mỗi năm lại có thêm hàng triệu người mắc chứng béo phì. Bệnh béo phì gây nhiều yếu tố liên quan tác động đến chất lượng dân số của quốc gia, đặc biệt là lớp người trẻ tuổi. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, đời sống nhân dân được nâng cao, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng béo phì đang ngày càng gia tăng. Bài viết này đề cập đến hiện trạng béo phì trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã đạt đến mức báo động. Đây cũng là một trong những trọng tâm  cần quan tâm trong chương trình nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn tới.

        Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường thường một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ dao động trong giới hạn nhất định. "Cân nặng nên có" của mỗi người thường ở vào độ tuổi 25-30. Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới thường dùng chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index - BMI) để nhận định tình trạng gầy béo. ­­­Bệnh béo phì gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường, thừa mỡ trong máu, huyết áp cao và các bệnh về não…

Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) được tính theo công thức sau :

 

trong đó: W = Cân nặng (kg)

     H = Chiều cao (m)

-          <18: Người gầy

-          20 – 25: Cân nặng bình thường

-          > 25: Thừa cân

-          >30: Béo phì

Đối với người châu Á, BMI bình thường có giới hạn từ 18.5 đến 23.


-          Phân độ béo phì:

ĐỘ

BMI

LÂM SÀNG

Độ I

25 – 30

Quá cân

Độ II

31 – 35

Béo phì

Độ III

36 – 40

Béo phì vừa

Độ IV

>40

Béo phì nặng

PHÂN LOẠI BMI THEO WHO 1998

XẾP LOẠI

BMI

Gầy

Trung bình

Thừa cân

<18.5

18.5 – 24.9

25 – 29.9

Béo phì

Trung bình

30 – 34.9

Nặng

35 – 39.9

Rất nặng

>40

 


-          Phân loại theo sự phân bố khối mỡ: Sự phân bố khối mỡ này có vai trò của cơ địa di truyền và yếu tố môi trường chi phối

·       Mỡ tập trung nhiều quanh vùng eo lưng tạo nên dáng người "quả táo tàu" thường được gọi là béo kiểu "trung tâm."

·       Béo phần trên (Béo phì dạng nam): mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng. Tỷ lệ vòng eo/vòng hông ≥ 1.

·       Béo phần thấp (Béo phì dạng nữ): mỡ tập trung ở phần háng tạo nên vóc người "hình quả lê."

I/ Tình trạng béo phì trên thế giới

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người bị béo phì trên thế giới lên đến hơn 1,5 tỷ người. Hiện tình trạng thừa cân, béo phì đang tăng lên với tốc độ báo động không những ở các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển.

a)     Béo phì ở người lớn:

      Theo Hiệp hội Béo phì Mỹ, hiện nay có khoảng 60 triệu người dân Mỹ bị béo phì, tăng gần gấp 3 lần so với năm 1991 (25 triệu người). Đây cũng là nước có tỉ lệ béo phì cao nhất thế giới. Nước sát ngay Mỹ là Canada, theo Bộ Y tế Canada cho biết trong nghiên cứu tiến hành năm 1995-2003, xu hướng tăng cân đã trở nên rất phổ biến trong dân chúng nước này, 1/3 dân Canada bị béo phì. Bộ Y tế Anh vào năm 1992 đã dự đoán rằng đến năm 2005 sẽ có gần 6% đàn ông và 8% phụ nữ mắc chứng béo phì. Nhưng trên thực tế, các số liệu thống kê cho thấy số lượng người béo phì đã tăng gấp ba chỉ trong vòng hai thập kỷ. Những số liệu là từ báo cáo của Bộ Y tế, thống kê từ thông tin thu thập trong cuộc khảo sát sức khỏe năm 2002.

       Ở châu Mỹ, chính phủ Brazil cho biết 40% dân chúng ở độ tuổi hơn 20 ở nước này (khoảng 38,8 triệu người) bị thừa cân do tiêu thụ đường, đồ uống nhẹ và thực phẩm giàu chất béo, khoảng 16% dân số (10,5 triệu người) bị béo phì, Chính tổng thống Brazil Lula da Silva thừa nhận tại một cuộc họp là ông bị thừa cân, phải tập thể dục thường xuyên và hiện đang phải ăn kiêng. Vieira, 42 tuổi làm nghề quét dọn đường phố ở Brazil cao 1,7m nhưng cân nặng 120 cân. Có lẽ đây là thí sinh lý tưởng cho chương trình mới trên truyền hình Brazil nói về 12 người béo giảm cân trong 10 tuần. Ai giảm nhiều cân nhất trong chương trình này sẽ được tặng 110.000 đô la, một khoản tiền quá lớn ở một đất nước có mức lương tháng tối thiểu dưới 100 đô la. Song bà rất xấu hổ không dám dự thi vì phải gửi ảnh trong bộ đồ tắm. Chương trình này tới nay đã thu hút hơn 30.000 thí sinh và điều này cũng làm tăng nỗi lo ngại về trọng lượng người dân nước này.

        Ở châu Phi, Nozizwe Madlala-Routledge, Thứ trưởng Bộ Y tế Nam Phi cho biết 29% nam giới và 57% nữ giới nước này  béo phì.

         Ở châu Á, theo báo cáo của chính phủ Trung Quốc, tốc độ gia tăng của tình trạng béo phì ở Trung Quốc đã lên tới 97% trong 10 năm qua. Tổ chức dinh dưỡng chính thức đầu tiên của Trung Quốc và cơ quan khảo sát sức khỏe cho biết từ giữa năm 1992 đến năm 2002, đã có hơn 60 triệu người bị béo phì.

       Tháng 8/2006 tại Hội nghị của tổ chức các nhà kinh tế nông nghiệp quốc tế diễn ra tại Brisbane (Úc) cho biết, đã có khoảng 1 tỉ người béo phì so với 800 triệu người  thiếu ăn trên toàn thế giới, tỷ lệ béo phì đã vượt trên tỷ lệ đói ăn. Theo giáo sư B.Popkin của đại học Nam Carolina (Mỹ) tỷ lệ béo phì trên thế giới đã tăng với tốc độ báo động.

b)    Béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên

 Ngày nay, trẻ em cũng đã và đang trở thành nạn nhân của chứng béo phì, nguyên nhân có thể do di truyền, chế độ ăn uống không hợp lý, lười vận động… Đây là nh ân tố tác động lớn đến chất lượng dân số của quốc gia vì tác động trực tiếp đến thế hệ tương lai của đất nước.

      Ở Pháp, học sinh tiểu học có tỷ lệ béo phì năm 1980 là 5% thì năm 2000 đã là 16% tức là tăng lên 3 lần trong 10 năm. Hiện nay, chứng béo phì đã trở thành xu hướng dễ phát triển nhất đối với trẻ nhỏ và thanh thiếu niên không chỉ tại Mỹ mà còn ở các quốc gia phát triển khác. Theo Hiệp hội Béo phì Mỹ (American Obesity Association), khoảng 15 % thanh thiếu niên (12 – 19 tuổi) và trẻ em (6 – 11 tuổi) bị bệnh béo phì tại nước này. Có hơn 300,000 ca tử vong mỗi năm do nguyên nhân béo phì. Tổng số tiền phải chi hàng năm cho vấn đề béo phì ước chừng khoảng một trăm triệu đô la Mỹ. Ở Anh, khoảng 27% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng béo phì. Nguyên nhân chủ yếu được đưa ra là do lười vận động. Đa số những đứa trẻ béo phì do lười vận động có bố mẹ cũng lười vận động. 


Tỷ lệ trẻ em tiếp tục bị béo phì khi trưởng thành tại Anh

 

Tuổi quan sát (năm)

Tỉ lệ béo phì khi lớn lên

*Nghiên cứu số

Thời thơ ấu

Trưởng thành

Nam

Nữ

1

10 – 13

29 – 34

74

72

2

9 – 13

42 – 53

63

-

3

<1

20 – 30

36

-

4

9 – 10

31 – 35

57

64

 

13 – 14

31 – 35

77

70

5

1 – 5

19 – 26

27

-

6

7

35

40

20

 

13

35

40

30

7

7

14

90

87

 

7

16

63

62

8

2 – 14

10 – 24

43

-

9

1 – 14

10 – 23

42

66

10

13 – 17

27 – 31

58

-

11

7

33

43

63

 

11

33

54

64

 

16

33

64

78

*Power, C., Lake, J. K., Cole, T. J. (1997) Measurement and long-term health risks of child and adolescent fatness. Int J Obes Relat Metab Disord 21: 507


Theo thống kê, số lượng trẻ em béo phì nặng ít hơn 3 đến 10 lần số lượng trẻ em vẫn tiếp tục bị thừa cân hoặc béo phì khi đạt độ tuổi trưởng thành.

II/ Tình trạng béo phì ở Việt Nam

a)     Béo phì ở người lớn

      Năm 2006, Viện Dinh Dưỡng, Việt Nam đã công bố kết quả điều tra về thừa cân-béo phì trên quy mô toàn quốc, gồm 7600 hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (có độ tuổi từ 25 - 64 tuổi) cho thấy có 16,8% người thừa cân - béo phì. Ngoài ra kết quả khảo sát 48.000 người trong thời gian từ năm 1996 đến 2001 cho thấy tỷ lệ béo phì ở học sinh PTTH cũng lên tới 3,5%, nam thanh niên nhập ngũ 2,8%, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, 9,7% và cao nhất là nhóm người trên 15 tuổi với 15,7%. Các nghiên cứu do Viện Dinh dưỡng tiến hành tại các thành phố lớn cho thấy, bệnh béo phì đã trở nên rất phổ biến và tăng dần theo tuổi tác. Ở tuổi 30, 6-8% nam giới béo phì. Tỷ lệ này là 12% ở lứa tuổi 40-44. Tỷ lệ béo phì ở phụ nữ thành thị còn cao hơn nam giới. Ở lứa tuổi ngoài 30, cứ 10 phụ nữ thì có một người béo phì. Bước sang tuổi 40, tỷ lệ này là 1/6. Tình trạng thừa cân và béo phì là bệnh có liên quan đến nhiều bệnh nguy hiểm như cao huyết áp, tiểu đường, tăng Cholesterol máu và tăng Triglycerit máu. TP.HCM hiện xác định phòng chống gia tăng bệnh béo phì là một trong khâu quan trọng trong chương trình sức khoẻ của thành phố và tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng hợp lý.

b)    Béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên

Viện Dinh dưỡng tại Hội nghị Khoa học toàn quốc Hội Y tế Công cộng lần thứ IV khuyến cáo: “Béo phì đang gia tăng trên học sinh tại các thành phố lớn. Đây là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, đái tháo đường, sỏi mật, ung thư, đe dọa sức khoẻ của các em.”

      Theo kết quả khảo sát mới được Viện Dinh dưỡng công bố thì tỷ lệ béo phì ở học sinh nội thành cao hơn so với ngoại thành; các hoạt động thể lực chưa đủ; năng lượng, lipid, glucid, khẩu phần cao; trình độ văn hoá và dinh dưỡng bố mẹ, chi phí cho ăn uống là những yếu tố liên quan đến béo phì. Kết quả khảo sát này được tiến hành trên 757 học sinh từ 9-11 tuổi tại 4 trường của Hà Nội và TPHCM, tỷ lệ béo phì học sinh tuỳ theo từng trường là 1,1%, 7,1%, 10,8%, có trường cá biệt lên tới 41,1%. Tình trạng béo phì của trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Quy Nhơn trong năm 2005 (tính theo chỉ số cân nặng/chiều cao) cho thấy tỷ lệ béo phì là 9.39%.

Giữa các trường tiểu học ở Quy Nhơn, trẻ em bị béo phì có tỷ lệ cao nhất là trường tiểu học Lê Lợi (tỷ lệ chung cho cả hai giới là 12,55%, trong đó trẻ em nam là 16,67%, trẻ em nữ là 7,66% trường tiểu học có tỷ lệ trẻ em bị béo phì thấp nhất là trường tiểu học Trần Phú (tỷ lệ chung cho cả hai giới là 4,86%, trong đó trẻ em nam là 5,56% và trẻ em nữ là 3,91%). Tỷ lệ béo phì trẻ em các trường tiểu học tại Quy Nhơn xếp theo thứ tự từ cao đến thấp dần như sau: Lê Lợi (12,55%), Trần Quốc Tuấn (10,04%), Ngô Mây (8,50%), Nguyễn Văn Cừ (7,59%), Lý Thường Kiệt (6,65%), Trần Phú (4,86%). Tỷ lệ béo phì 8,33% chung cho cả các trường là tỷ lệ ở mức cao đáng báo động.


Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tiểu học Quy Nhơn xếp theo giới tính (%)

Giới tính

Trạng thái dinh dưỡng (%)

Béo phì

Suy dinh dưỡng (SDD)

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Nam (1560)

172

10.03

46

2.95

Nữ (1393)

74

5.31

59

4.24

Chung (2953)

246

8.33

105

3.56


Trẻ em nam có tỷ lệ béo phì cao hơn trẻ em nữ (10.03% và 5.31%). Về béo phì lứa tuổi tiểu học nói riêng và các lứa tuổi khác của trẻ em nói chung đều có tỷ lệ nam cao hơn nữ, nhận xét như trên cũng đã được nhiều nghiên cứu trước về béo phì công bố tương tự.

      Theo đề tài “Khảo sát khuynh hướng béo phì và các yếu tố nguy cơ ở trẻ 4-5 tuổi tại các trường mầm non nội thành năm 2005” thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết có trẻ mới ba tháng tuổi đã béo phì, mỗi tháng lên tới 2kg. Theo số liệu năm 2003, thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ trẻ béo phì cao nhất: Số học sinh thừa cân ở thành phố này là 16,1%, cao hơn Hà Nội 1,5 lần, hơn Hải Phòng 3 lần.

KẾT LUẬN

      1/ Béo phì là một xu hướng đang xảy ra ở ngay cả những nước đang phát triển trên khắp thế giới. Đặc điểm chính của lối sống đô thị là hoạt động thể chất tốn ít năng lượng hơn do lối làm việc tĩnh tại đang tăng. Ngoài ra, cơ giới hoá giao thông và tự động hoá cũng làm hạn chế các hoạt động gây tiêu hao năng lượng trong cuộc sống hàng ngày.

       2/ Ngày nay, béo phì đã trở thành một vấn nạn toàn cầu, tác động trực tiếp đến chất lượng dân số của mọi quốc gia. Béo phì không còn chỉ là bệnh của những nước giàu mà nó đã bùng phát rất mạnh tại các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam… Ở các nước phát triển như Mỹ, Anh… tỷ lệ nữ giới bị mắc chứng béo phì lớn hơn nam trong khi tại Việt Nam, con số thống kê cho thấy số lượng nam giới mắc chứng béo phì nhiều hơn nữ.

      3/ Bệnh béo phì đã và đang mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho cả cá nhân người mắc bệnh, gia đình và xã hội. Hàng năm, nhiều quốc gia trên thế giới phải chi hàng tỷ USD để điều trị căn bệnh béo phì. Bệnh béo phì dễ gây mặc cảm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em và thanh thiếu niên là thế hệ tương lai của đất nước.

        4/ Cần phải hoạch định kế hoạch, giải pháp cụ thể để ngăn chặn sự phát triển của bệnh béo phì, kể cả các giải pháp vận động xã hội như tập thể dục thể thao thường xuyên, ăn uống hợp lý, chống stress… Đồng thời, những người mắc bệnh béo phì cần được tư vấn y tế như, giảm cân, ăn uống theo chế độ, . . . làm cho mọi người đều có một cơ thể khỏe mạnh tham gia tích cực hoạt động xã hội.



* Đại học Ngoại thương, Hà Nội

 

Liên kết