Web Content List Web Content List

Return to Full Page

 

kIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ skss/KHHGĐ
TẠI tỈnh Bà RỊa-Vũng Tàu
 


Giới thiệu
Số liệu thống kê cho thấy tỷ suất sinh thô của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giảm từ 17,8 ‰ năm 2001 xuống 15,0 ‰ năm 2009; tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cũng giảm từ 12,8% năm 2001 xuống còn 9,9% năm 2009. Tuy nhiên, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chấp nhận tránh thai để thực hiện mô hình gia đình ít con khỏe mạnh vẫn còn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Đặc biệt, tại các vùng ven biển việc chấp nhận mô hình qui mô gia đình ít con, chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia vẫn gặp không ít khó khăn. Nghiên cứu này được thực hiện tại 05 xã ven biển thuộc huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với cỡ mẫu là 400 người. Đây cũng là địa phương trọng điểm của Đề án kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2009-2020.
Đặc điểm hôn nhân và lịch sử sinh sản
Tuổi kết hôn người dân vùng biển huyện Xuyên Mộc chủ yếu từ 20-24 tuổi (chiếm 73,8%), số người kết hôn từ 25-30 tuổi là 22,8%, số người kết hôn dưới 20 tuổi (chủ yếu là 19 tuổi) vẫn chiếm 0,8%, số người kết hôn trên 30 tuổi không nhiều (2,75%). Trong tổng số 400 đối tượng không có trường hợp nào mong muốn chỉ có 01 con, số mong muốn có 2 con là 92,3%, muốn trên 02 con là 7,8%. Số người mong muốn có dưới 2 con trai là 89,5%, 2 con trai là 9,3% và trên 2 con trai là 1%. Số người mong muốn có dưới 2 con gái là 92,8%, có 2 con gái là 5,5% và trên 2 con gái là 1,8%.


Bảng 1. Tương quan giữa trình độ học vấn và tổng số con mong muốn
 
Muốn có 2 con (%)
Muốn có trên
2 con (%)
Không biết chữ
100
0
Tiểu học
88,7
11,3
Trung học cơ sở
94,1
5,9
THPT
90,5
9,5
THPT +
100
0
 


Theo số liệu nghiên cứu, 100% làm hành chính sự nghiệp đều mong muốn có 2 con. Tuy nhiên các nghề nghiệp khác có một tỷ lệ nhỏ người mong muốn trên 2 con như nội trợ: 3,9%, làm ruộng: 4,2%, sản xuất kinh doanh: 7,4%, buôn bán dịch vụ: 10,3%. Tuy nhiên đối tượng là người làm nghề biển lại có tỷ lệ mong muốn trên 2 con đến 29,3%. Đây là một yếu tố cần lưu ý trong việc truyên truyền vận động về SKSS/KHHGĐ. Việc quyết định số con chủ yếu do cả hai vợ chồng chiếm 90,8 %, người chồng quyết định là 4,5%, người vợ quyết định là 3,3% và 0,8% không có ý kiến. Như vậy kiến thức cũng như thái độ của người dân địa phương về qui mô gia đình khá tốt. Người dân đã dần xem qui mô gia đình nhỏ, ít con từ 1 đến 2 con như là một chuẩn mực của xã hội. Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009 cho thấy tổng tỷ suất sinh của Bà Rịa-Vũng Tàu là 2,01 con. Các cặp vợ chồng mong muốn có cả con trai và con gái.
Nhận thức về chăm sóc trước sinh


Bảng 2. Thời điểm khám thai lần đầu
Thời điểm
Tỷ lệ (%)
Ngay sau khi phát hiện
56,5
Ba tháng đầu
17,5
Ba tháng giữa 
12,3
Ba tháng cuối
10,8
Khi có vấn đề
3,0
Tổng
100,0
 


Thời điểm khám thai lần đầu chủ yếu ngay khi phát hiện đã mang thai chiếm tỷ lệ 56,5%, trong 3 tháng đầu là 17,5%, ba tháng giữa là 12,3%, ba tháng cuối là 10,8% và khi có vấn đề mới đi khám thai là 3%. Có 82,3% số người khảo sát cho rằng cần khám thai trên 2 lần trong suốt thai kỳ, khám thai 2 lần có 11,5%, khi có vấn đề mới đi khám thai có 5,5% và chỉ khám thai 1 lần là 0,8%. Cần uống viên sắt khi mang thai được 95,5% số người được khảo sát chọn lựa, 1,5% cho rằng cần uống thêm thuốc bổ, 1% uống thêm sâm, 0,8% uống thuốc tăng lực, đặc biệt có 0,8% cho rằng mang thai cần uống kháng sinh.


 
Bảng 3. Hiểu biết về các dấu hiệu biến chứng khi mang thai
Biến chứng
Tỷ lệ %
Phù
30,8
Hoa mắt, chóng mặt
36,3
Đau đầu 
18,5
Ra máu bất thường 
39,0
Tiểu ít
16,8
Khó thở
24,5
Tất cả các dấu hiệu trên
50,8
Khác
3,0
Không có ý kiến
5,0
 


Có 50,8% số người cho rằng có nhiều dấu hiệu để nhận biết các biến chứng khi mang thai. Dấu hiệu được chọn nhiều nhất là ra máu bất thường (39%), tiếp theo là hoa mắt chóng mặt (36,3%), phù (30,8%), khó thở (24,5%), đau đầu (18,5%), tiểu ít (16,8%), biểu hiện khác 3% và 5% không có ý kiến. Trong số 400 người được khảo sát 96,8% cho rằng khi mang thai nên tránh làm việc nặng, 73% cho rằng phải tránh tập thể dục mạnh, 54% không nên ngâm mình dưới nước, có 0,3% khuyên không nên tắm rửa và ngoài ra có 0,8% số người được khảo sát không có ý kiến. Nhìn chung hơn một nửa (50,8%) biết các dấu hiệu biến chứng khi mang thai bao gồm phù, hoa mắt chóng mặt, ra máu bất thường, tiểu ít, khó thở. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc chăm sóc các thai phụ tại nhà trong Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2006-2010. Tuy nhiên vẫn còn 5% số người được hỏi không biết/không có ý kiến đối với các dấu hiệu biến chứng khi mang thai.
Nhận thức về chăm sóc sau sinh và kiến thức KHHGĐ


Bảng 4. Nơi phụ nữ thường chọn để sinh con
Địa điểm
Tỷ lệ %
Trạm xá xã
66,8
Nhà hộ sinh tư
10,0
Trung tâm y tế huyện
72,3
Trung tâm KHHGĐ tỉnh
6,8
Bệnh viện tỉnh
32,3
Tùy theo hoàn cảnh khi đẻ
10,0
 


            Địa điểm được chọn nhiều nhất là trung tâm y tế huyện (72,3%) và trạm y tế xã (66,8%); tiếp đến là bệnh viện tỉnh (32,3%), nhà hộ sinh tư (10%), và Trung tâm KHHGĐ tỉnh (6,8%).


Bảng 5. Biện pháp tránh thai phù hợp với cặp vợ chồng
Biện pháp tránh thai
Tỷ lệ %
Thuốc uống tránh thai
71,5
Vòng tránh thai
76,0
Thuốc tiêm 3 tháng/lần
41,5
Que cấy
35,3
Màng/kem/thuốc
6,3
Bao cao su
73,0
Tính vòng kinh
23,0
Xuất tinh ra ngoài
3,0
Không biết
2,3
 


Trong các biện pháp tránh thai, những người được khảo sát nhận định biện pháp tránh thai phù hợp cho cặp vợ chồng nhiều nhất là Vòng tránh thai 76%, Bao cao su 73%, Thuốc uống tránh thai 71,5%, Thuốc tiêm tránh thai 3 tháng/lần 41,5%, Que cấy 35,3%, Tính vòng kinh 23%, Màng ngăn/kem/thuốc 6,3%, Xuất tinh ra ngoài 3% và không biết là 2,3%. Nhận thức về vấn đề nạo phá thai cũng khá tốt với 92,8% cho rằng nạo phá thai không phải là biện pháp tránh thai.


 
 
Bảng 6. Những biểu hiện của bệnh phụ khoa
Các biểu hiện
Tỷ lệ %
Ra khí hư
36,0
Ra khí hư hôi, đục
51,5
Ra máu bất thường
44,5
Đau bụng dưới
33,8
Tiểu khó
14,5
Tiểu ra máu
17,5
Ngứa
20,8
Không biết
19,5
 


Trong các dấu hiệu biểu hiện của bệnh phụ khoa thì những người được phỏng vấn trả lời ra khí hư hôi đục là 51,5%, ra máu bất thường là 44,5%, ra khí hư 36%, đau bụng dưới 33,8%, ngứa 20,8%, tiểu ra máu 17,5, tiểu khó 14,5% và có 19,5% không biết biểu hiện nào của bệnh phụ khoa. Trong tổng số người được phỏng vấn cho rằng nên đi khám phụ khoa mỗi năm 2 lần chiếm 54,3%, chỉ khám khi có triệu chứng bệnh 20,5%, khám 4 lần/năm 15,75%, khám 1 lần là 6,3% và khám 12 lần/năm là 3,3%. Đối với các dấu hiệu của bệnh phụ khoa, trên 50% người được hỏi đểu trả lời ít nhất một dấu hiệu của bệnh, dấu hiệu được chú ý nhất là: Ra khí hư hôi, đục (51,5%) và ra máu bất thường (44,5%). Tuy nhiên vẫn có 19,5% số người trả lời không biết các dấu hiệu của bệnh phụ khoa, cần phải lưu ý tăng cường tuyên truyền thêm cho người dân. Về số lần khám phụ khoa hàng năm, 54,3% số người cho rằng cần khám 2 lần/năm và có 15,8% đề nghị khám 4 lần/năm. Có 3,3% số người cho rằng phải khám phụ khoa mỗi năm 12 lần (mỗi tháng khám 1 lần). Tuy nhiên vẫn còn 20,5% cho rằng chỉ cần khám phụ khoa khi có các triệu chứng nhiễm bệnh.
Về các nguồn cung cấp thông tin, các đối tượng khảo sát đều nêu cộng tác viên dân số là nguồn cung cấp chính (85,3%) cùng với các buổi nói chuyện của y tế (83%), qua báo đài (77,5%) và các buổi sinh hoạt hội phụ nữ (75,3%). Điều cần lưu ý ở đây là vai trò của Đoàn thanh niên trong việc tuyên tuyền SKSS/KHHGĐ nhất là đối với đối tượng vị thành niên/thanh niên chưa rõ ràng (chỉ có 23%).
Khuyến nghị
-          Trong tuyên truyền vận động thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ cần hết sức lưu ý đến nhu cầu sinh con trai của người dân làm nghề biển để có những giải pháp phù hợp để người dân chấp nhận thực hiện mô hình gia đình ít con.
-          Tổ chức các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ để người dân hiểu, thay đổi nhận thức và chuyển đổi hành vi. Một mô hình thiết thực là thành lập Đội lưu động dân số-sức khỏe sinh sản.
-          Ngành y tế cần phối hợp hơn nữa với các ban ngành đoàn thể các cấp để tăng cường truyền thông chuyển đổi hành vi về SKSS/KHHGĐ đến từng hội viên. Trong tuyên truyền cần nhấn mạnh đến lợi ích của KHHGĐ cũng như tác hại của việc không thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Cần nhấn mạnh với sự đa dạng của nghề biển ngày nay không còn phụ thuộc quá nhiều vào nam giới. Lưu ý vai trò của nam giới trong việc thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ, vận động bình đẳng giới.
-          Nâng cao năng lực cho lực lượng cộng tác viên dân số làm nòng cốt trong việc truyền thông trực tiếp, đa dạng hóa các kênh truyền thông đại chúng như xây dựng các tiểu phẩm, kịch, sân khấu hóa… 
-          Có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và truyền thông cho cán bộ y tế, cán bộ chuyên trách dân số. Đây là lực lượng vừa tham gia tuyên truyền vừa thực hiện dịch vụ SKSS/KHHGĐ để tạo niềm tin cho người dân.


* Đại học Y tế Công cộng Hà Nội.