Bài phát biểu của Bộ trưởng Lê Thị Thu, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tại lễ mít tinh nhân ngày Dân số Thế giới 11/7/2003

 

Trước hết, thay mặt Lãnh đạo Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quan tâm đến chương trình dân số và dành thời gian đến dự buổi lễ mít tinh trọng thể ngày hôm nay và xin gửi đến quý đại biểu, các vị khách quốc tế lời chào mừng tốt đẹp nhất.

Hôm nay ngày 11/7, ngày mà cách đây tròn 16 năm, LHQ đã lấy là Ngày Dân số Thế giới nhân sự kiện công dân thứ 5 tỷ của hành tinh chúng ta chào đời.

Thực hiện chương trình hành động về Dân số và Phát triển đã được thông qua tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển Cairô 1994. Hội nghị thượng đỉnh về phát triển Phụ nữ tại Bắc Kinh 1995 và Hội nghị LaHay 1999, với sự nỗ lực của Chính phủ các nước và cộng đồng quốc tế, chương trình dân số toàn cầu đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Nhịp độ gia tăng dân số quá nhanh đã được giảm lại, nạn đói nghèo, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên từng bước được cải thiện, một số vấn đề về sức khỏe sinh sản đã được giải quyết tốt hơn, vị thế phụ nữ cũng được cải thiện dần ở một số khu vực. Hiện nay dân số thế giới đang ở mức 6,3 tỷ người. Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 74 triệu người thay vì 86-87 triệu người của những năm giữa thập kỷ trước, số con trung bình của một phụ nữ ở các nước đang phát triển đã giảm xuống còn 2,9; tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai đã tăng lên 72%... Những kết quả này đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân số thế giới nói chung và dân số của những nước nghèo nói riêng. Cùng với các nỗ lực phát triển, thay đổi phương thức khai thác tài nguyên theo hướng bền vững, những kết quả này cũng góp phần vào việc thu hẹp quy mô tàn phá môi trường, làm giảm sức ép của việc đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng các dịch vụ xã hội thiết yếu cho người dân.

Mặc dù đã đạt được những tiến bộ quan trọng, song trong quá trình giải quyết tốt hơn các vấn đề dân số và phát triển bền vững, chúng ta đang phải tiếp tục đối mặt với những thách thức to lớn. Với quy mô dân số đã lớn, kinh tế phát triển không đồng đều, nạn suy thoái môi trường, nạn khan hiếm nước, việc đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực, cung cấp các dịch vụ xã hội thiết yếu vẫn tiếp tục là một bài toán nan giải của nhiều nước. Gia tăng dân số vẫn còn nhanh làm hạn chế kết quả của những nỗ lực giảm bớt quy mô nghèo đói, thất học. Trong một thế giới có AIDS, sự gia tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển còn kéo theo sự gia tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó bao gồm cả trẻ em và vị thành niên. Trong dân số nhóm vị thành niên chiếm tỷ trọng khá lớn, gần 1/2 dân số thế giới dưới 25 tuổi. Song hơn bất kỳ nhóm tuổi nào của dân số, do đặc tính sinh học và xã hội, do các yếu tố văn hoá và kinh tế, vị thành niên là nhóm dân số chưa được quan tâm đúng mức, chịu thiệt thòi và phải đối diện với các nguy cơ cao trong các lĩnh vực sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng. Khoảng một nửa số ca nhiễm HIV mới trong tổng số hơn 40 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới là vị thành niên và thanh niên. Hiểu biết của vị thành niên về các vấn đề sức khoẻ sinh sản chưa đầy đủ; tình dục không an toàn và có thai ngoài ý muốn, ít khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ của vị thành niên là những vấn đề ngày càng gay gắt.

Chính vì vậy thông điệp của LHQ cho Ngày Dân số 11/7/2003 là: Một tỷ vị thành niên có quyền được khoẻ mạnh, được cung cấp thông tin và dịch vụ. Để giải quyết thành công những vấn đề dân số, vì một thế giới công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm của mỗi nước và cả cộng đồng quốc tế.

Ở Việt Nam, với sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, với việc huy động sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các ngành, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng và với sự ủng hộ về tinh thần, sự giúp đỡ có hiệu quả về kỹ thuật và tài chính của các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước, công tác dân số ở Việt nam đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ. Mức sinh giảm, tốc độ gia tăng dân số nhanh đã được giảm lại. Trong vòng hơn 1 thập kỷ qua, tổng tỷ suất sinh (số con bình quân của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ) đã giảm từ 3,8 con xuống mức dưới 2,3 con. Các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chấp nhận và sử dụng các biện pháp tránh thai đã tăng lên đáng kể, hiện nay hơn 75% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ được sử dụng các biện pháp tránh thai bằng các biện pháp đa dạng, an toàn và thuận tiện. Phong trào thực hiện KHHGĐ phát triển rộng khắp trong cả nước.

Kết quả này góp phần đáng kể vào những thành tựu xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời góp phần vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong giải quyết những vấn đề dân số và phát triển bền vững vì một thế giới tốt đẹp hơn.

Nhân dịp này, thay mặt Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đối với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ và giúp đỡ của các ngành, các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế và các Chính phủ trong công tác dân số, góp phần làm nên những kết quả rất đáng trân trọng.

Tuy đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, song trong quá trình giải quyết toàn diện những vấn đề về dân số, đưa công tác dân số đến thành công vững chắc, chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn thách thức rất lớn.

Mức sinh đã giảm, song kết quả này chưa thật vững chắc. Trong hoàn cảnh một nước nghèo, kinh tế - xã hội và trình độ dân trí chưa phát triển, tâm lý muốn có nhiều con, phải có con trai còn khá nặng ở nhiều người nên nguy cơ bùng nổ dân số trở lại vẫn còn. ở khu vực nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, mức sinh vẫn còn cao, trung bình gấp 1,5 lần so với khu vực thành thị đang là một yếu tố cản trở các nỗ lực xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực này.

Quy mô dân số nước ta đã trên 80 triệu người, số dân tăng thêm hơn 1,1 triệu người hàng năm vẫn tiếp tục là một áp lực lớn đối với những nỗ lực giải quyết công ăn việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản và phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh những vấn đề về quy mô dân số, chất lượng dân số còn thấp, việc phân bố dân cư chưa hợp lý, đăng ký và quản lý dân số chưa đáp ứng được yêu cầu cũng là những vấn đề cần được giải quyết trong thời gian tới.

Với cơ cấu dân số trẻ, trong tổng số hơn 80 triệu dân, Việt Nam có hơn 17 triệu vị thành niên. Thời gian qua, trong nỗ lực chung nhằm giải quyết cơ bản và vững chắc các vấn đề dân số, chúng ta đã quan tâm đến nhóm tuổi vị thành niên. Chương trình Giáo dục dân số/Sức khoẻ sinh sản đã được triển khai trong hệ thống nhà trường ở các địa phương, được vị thành niên hoan nghênh. Các chương trình “Cửa sổ tình yêu”, “Tuổi 16”, các trung tâm tư vấn cho vị thành niên... đã được triển khai có kết quả. Song sự quan tâm này vẫn chưa đúng mức. Tình trạng kết hôn sớm, tảo hôn, quan hệ tình dục không được bảo vệ, có thai ngoài ý muốn và nạo hút thai, thiếu hiểu biết về các vấn đề sức khoẻ sinh sản, chưa tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong vị thành niên, đây là vấn đề cần được giải quyết trên các bình diện của công tác dân số và cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới.

Nhận thức rõ những thách thức, khó khăn và bất cập, xác định đầy đủ mục tiêu phải đạt được và những việc cần làm trong lĩnh vực dân số đặt trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt Chiến lược Dân số 2001-2010. Chiến lược này đã thực hiện trong hơn 2 năm qua, nhiệm vụ công tác dân số những năm tới là tiếp tục thực hiện thành công chiến lược này, nghĩa là phải triển khai đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, tổ chức và quản lý, truyền thông giáo dục thay đổi hành vi, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ, nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu về dân cư; nâng cao dân trí, tăng cường vai trò của gia đình và bình đẳng giới; đẩy mạnh xã hội hoá; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số và phát triển; kinh phí; đào tạo và nghiên cứu nhằm đạt được 2 mục tiêu cụ thể sau:

1.    Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội vào năm 2010;

2.    Nâng cao chất lượng dân số về thể chất trí tuệ và tinh thần. Phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010.

Trước mắt, trong bối cảnh hiện nay, từ nay đến năm 2005, chúng ta phải tập trung ưu tiên cho việc giải quyết mục tiêu về quy mô dân số, phấn đấu đạt được mức sinh thay thế vào năm 2005, tạo cơ sở cho việc ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý. Để đạt được mục tiêu này, phải triển khai đồng bộ các giải pháp đã được đề ra trong Chiến lược Dân số 2001-2010, song phải chú ý các giải pháp cơ bản sau:

1.    Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác dân số. Việc thực hiện chính sách và mục tiêu dân số cần được đặt trong nội dung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và được kiểm tra, đôn đốc thường xuyên.

2.    Mở rộng và nâng cao hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi về dân số. Triển khai các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên cả kênh trực tiếp thông qua đội ngũ cộng tác viên Dân số, Gia đình và Trẻ em ở thôn, xóm với các thông điệp rõ ràng, dễ hiểu, bằng các hình thức phong phú và sinh động nhằm tạo chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành vi về dân số của toàn xã hội. Chú ý đúng mức đến việc triển khai chương trình giáo dục DS/SKSS cho vị thành niên trong và ngoài nhà trường.

3.    Tổ chức tốt việc triển khai thực hiện Pháp lệnh Dân số, đưa Pháp lệnh Dân số vào cuộc sống một cách thuận lợi. Khẩn trương xây dựng và ban hành các nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số. Trên cơ sở Pháp lệnh Dân số, xây dựng các chính sách phù hợp cho việc tạo dựng mô hình quy mô gia đình ít con như là một chuẩn mực xã hội.

4.    Xây dựng và triển khai chương trình phối hợp hành động trong lĩnh vực dân số với các ngành, đoàn thể nhằm huy động đông đảo lực lượng của các ngành, đoàn thể tham gia công tác này theo một cơ chế rõ ràng, có hiệu quả.

5.    Mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và cho nhóm đối tượng vị thành niên.

6.    Củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em từ Trung ương đến cơ sở đủ sức quản lý và điều hành công tác này, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc nâng cao năng lực và tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ chuyên trách Dân số, Gia đình và Trẻ em ở cấp xã/phường và cộng tác viên Dân số, Gia đình và Trẻ em ở thôn xóm.

Ở đây chúng tôi thấy cần nhấn mạnh rằng các quá trình quan trọng của dân số diễn ra trước hết và chủ yếu trong phạm vi gia đình là một bộ phận tất yếu của đời sống gia đình, liên quan đến sự phát triển của các thành viên trong gia đình. Do đó, trong thực tiễn triển khai các hoạt động cần làm cho các nội dung dân số, gia đình và trẻ em gắn bó, lồng ghép với nhau để đạt hiệu quả cao hơn.

Trong công tác dân số thời gian qua chúng ta đã đạt được những thành tựu bước đầu. Để đạt được thành công vững chắc trong công tác này, đòi hỏi sự nỗ lực cao không chỉ của ngành Dân số, Gia đình và Trẻ em mà là sự nỗ lực của tất các các ngành, các cấp, của toàn xã hội. Chúng tôi mong rằng sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ, giúp đỡ của các ngành, đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội trong triển khai các nhiệm vụ và giải pháp của công tác dân số trong thời gian tới.

Thời gian qua, công tác dân số nói riêng và trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước đối với Việt Nam là hết sức quý báu, một lần nữa xin cảm ơn các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước đã giúp đỡ, hỗ trợ chúng tôi giải quyết có kết quả các vấn đề dân số và rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước trên lĩnh vực này trong thời gian tới.

Tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ Việt Nam, sự hỗ trợ và tham gia tích cực của các ngành, đoàn thể, sự chỉ đạo các cấp uỷ và chính quyền địa phương, sự đồng tình ủng hộ và tham gia tích cực của đông đảo nhân dân và sự giúp đỡ quý báu của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước, công tác dân số của Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được kết quả tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Việt Nam, đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, nhanh chóng hội nhập quốc tế vì một thế giới hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển.