Một số vấn đề về sức khoẻ ở Tây Nguyên

Thế Anh*  

 

Tây Nguyên có một hệ thống y tế tương đối phát triển so với tình hình chung của cả nước. Chi ngân sách y tế bình quân đầu người của vùng Tây Nguyên cao hơn 20% so với mức trung bình cả nước, cao gấp rưỡi so với Tây Bắc. Tuy nhiên, một số chỉ báo sức khoẻ của cư dân Tây Nguyên lại  ở vị trí thấp hơn. Đây là vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý và cả người dân các dân tộc Tây Nguyên.

Tây Nguyên vẫn còn là vùng có tỷ lệ trẻ sơ sinh chết cao nhất trong cả nước (55,0 cho mỗi 1.000 trường hợp sinh đẻ, so với mức cả nước là 36,0). Tỷ lệ chết trẻ em chết dưới 1 tuổi ở nông thôn Tây Nguyên là 73,21/1.000 trường hợp sinh sống.

Theo số liệu điều tra, trên cả nước trong ba năm qua có tới 39,4% phụ nữ nông thôn sinh con tại nhà. Tỷ lệ này ở phụ nữ dân tộc cao gấp đôi (78,9%). Chỉ khoảng 9% phụ nữ nông thôn dân tộc đến sinh con ở bệnh viện nhà nước và 12% ở các trung tâm y tế xã. ở vùng miền núi, tỷ lệ sinh con tại nhà còn cao hơn nữa: 85% phụ nữ nông thôn dân tộc Tây Nguyên. Số phụ nữ nông thôn các dân tộc thiểu số đến sinh con tại cơ sở y tế xã ở vùng núi phía Bắc chiếm khoảng 3% và ở Tây Nguyên còn thấp hơn nữa. ở Tây Nguyên (TN), phụ nữ các dân tộc thích sinh con ở nhà mà không đến trạm xá, có thể do hai nguyên nhân đó là: Việc đưa một phụ nữ về trạm xá để sinh khá tốn kém tiền bạc và nhân lực. Thông thường, số người đi theo có thể lên đến 4-5 người. Thời gian có thể kéo dài 2 đến 4 ngày. Nhiều đồ dùng, dụng cụ sẽ phải mang theo, mặc dù vậy chắc chắn vẫn thiếu thốn các tiện nghi cần thiết phục vụ cho việc ăn, ở của người đẻ cũng như số người đi cùng. Cho đến nay, phụ nữ các dân tộc TN vẫn còn xấu hổ và chưa thích ứng với cơ sở bệnh viện, trong khi đó, họ vẫn quan niệm việc sinh đẻ và đỡ đẻ là chuyện đơn giản. Vì thế, ở Tây Nguyên, tại những xã điều tra ghi nhận được tình hình khá phổ biến là phụ nữ  sinh đẻ ở nhà với sự trợ giúp được trả tiền của các nhân viên y tế công cộng hoặc tư nhân đang còn phổ biến.

Tổng tỷ suất sinh đã giảm mạnh trên cả nước từ 3,8 vào năm 1989 xuống 3,1 vào năm 1994, 2,7 năm 1996 và đến năm 1999 giảm xuống còn 2,3. ở Tây Nguyên, tổng tỷ suất sinh giảm rất chậm, vào năm 1994 tổng tỷ suất sinh của vùng là cao nhất trong cả nước, đến năm 1996 vẫn còn là 4,4 và năm 1999 là 3,9. Riêng khu vực nông thôn Tây Nguyên vẫn còn ở mức 4,68 (Tổng Điều tra Dân số 1999).

Điều tra Nhân khẩu học và sức khoẻ 1997 cho thấy trên cả nước, nếu như có 22,7 phụ nữ nông thôn người Kinh hay Hoa không sử dụng biện pháp tránh thai nào, thì tỷ lệ này là gần gấp đôi (40,5%) ở phụ nữ nông thôn dân tộc. Điều đáng lo ngại là tỷ lệ này đặc biệt cao trong số phụ nữ nông thôn dân tộc ở Tây Nguyên (gần 70%). Đặt vòng là biện pháp phổ biến trong số phụ nữ nông thôn dân tộc cả nước cũng như ở vùng núi phía Bắc, nhưng ở Tây Nguyên chỉ có 9,3% sử dụng biện pháp này.

Một nhận xét được thừa nhận chung trong mọi cuộc phỏng vấn ở thực địa là đã có những thay đổi đáng kể trong thập niên 90 của thế kỷ XX về hành vi sức khoẻ ở các nhóm dân tộc ít người. Theo ý kiến của một số cán bộ quản lý cấp tỉnh, thời gian qua đã có bốn thay đổi đáng chú ý trong hiểu biết và thực tế sức khoẻ của đồng bào dân tộc TN. Trước hết là kế hoạch hoá gia đình. Đồng bào dân tộc đã biết tìm đến các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình như đặt vòng tránh thai, triệt sản. Khi vỡ kế hoạch biết cách xử lý để giảm  sinh. Chuyển biến nói trên cũng thấy rõ ngay cả ở vùng sâu, nơi người dân đã hưởng ứng tiến hành các biện pháp tránh thai. Thứ hai, ý thức vệ sinh phòng bệnh khá hơn, thể hiện rõ rệt trong tiêm chủng. Người dân đã ý thức được việc tiêm chủng, biết thời gian và cách thức để tiêm chủng. Thứ ba là hiểu biết và phòng chống sốt rét. Màn được cung cấp từ nhiều nguồn: chương trình UNICEF, chương trình y tế quốc gia và các dự án của các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Tỷ lệ người dân sử dụng màn tăng lên, tỷ lệ sốt rét giảm mạnh. Thứ tư, tỷ lệ sử dụng muối i- ốt đã tăng lên nhanh chóng kể từ khi triển khai chương trình dùng muối i - ốt.

Cho đến nay vẫn còn một số tập quán không hợp vệ sinh trong các cộng đồng dân tộc. Đó là tập quán tổ chức tang lễ dài ngày; nấu ăn không sạch sẽ; uống nước không đun sôi, nhất là khi đi làm ngoài nương, trong rừng; vệ sinh môi trường không được chú trọng (nuôi gia súc thả rông, dưới gầm sàn nhà). Những cuộc phỏng vấn ở xã Bông Krang thuộc huyện Lăk, Krông Jing thuộc huyện MDrăk, tỉnh Đắk Lắk và ở các xã Sơn Lang, Tơ Tung, Kong Lơng Khơng và xã Đông thuộc huyện Kbang, tỉnh Gia Lai cho thấy, trong các bản, kể cả nơi có trình độ kinh tế và dân trí tương đối cao, vẫn còn  nhiều người ( đa số là người dân tộc thiểu số) thường xuyên uống nước không đun sôi. Nhìn chung đồng bào dân tộc còn thiếu kiến thức hoặc hiểu sai kiến thức về phòng và chữa bệnh. Rất ít phụ nữ dân tộc được phỏng vấn có hiểu biết đúng và đầy đủ về nguyên nhân, triệu chứng và điều kiện gây bệnh của những bệnh tật phổ biến ở vùng núi như sốt rét, tiêu chảy, viêm nhiễm đường hô hấp. Tỷ lệ phụ nữ có con bị tiêu chảy ở Tây Nguyên là 12,1%, riêng đối với phụ nữ nông thôn dân tộc ở Tây Nguyên con số này còn cao gần gấp đôi (20%). Còn số liệu điều tra tại 6 xã thuộc hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk của Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Phát triển năm 2002, số phụ nữ có con bị tiêu chảy thấp hơn  2,5% so với số liệu chung của Tây Nguyên song số người biết tìm cách khám và điều trị cho chúng chưa nhiều. Điều lo ngại lớn là tình trạng kiến thức của phụ nữ nông thôn dân tộc vùng này hiểu được tầm quan trọng của việc cho đứa trẻ uống nhiều nước hơn khi bị tiêu chảy còn ít. Trong các  cuộc phỏng vấn ở thực địa tại Đắk Lắk, phần lớn số phụ nữ trẻ có con nhỏ đều không trả lời đúng câu hỏi nói trên. Phần lớn cũng đều không biết rõ tên loại thuốc cần thiết và rất phổ biến để dùng trong trường hợp đứa trẻ bị bệnh tiêu chảy. Thông thường khi bị tiêu chảy một vài ngày đứa trẻ mới được cho uống thuốc, bệnh thường kéo dài 5 - 7 ngày. Các loại lá cổ truyền đôi khi được sử dụng trước, nếu không khỏi người ta cho chúng uống thuốc lấy ở trạm xá xã hoặc mua ở cửa hàng thuốc. Rất ít bà mẹ dân tộc biết rõ tên thuốc oresol mà họ vẫn sử dụng. Riêng đối với vùng dân tộc, có thể người ta cần đặt những tên đơn giản, dễ hiểu và dễ nhớ, cho các loại thuốc thiết yếu đối với vùng này. Đa số phụ nữ được hỏi đều không biết gì về các loại thuốc thường dùng. Nói chung, khi trẻ em ốm, cha mẹ chúng ít khi đưa đi khám trực tiếp, mà thường là cha mẹ đến nhân viên hay trạm y tế kể bệnh và lấy thuốc. Nhiều trường hợp phụ nữ nói rằng việc đi lấy thuốc thường do người bố, nên họ không biết gì về bệnh, tên thuốc và giá tiền.

Bên cạnh những chuyển biến rõ rệt trong hành vi chăm sóc sức khoẻ của người dân, vẫn còn hàng loạt những vấn đề đáng lo ngại khi điều trị bệnh tật trong dân cư TN hiện nay như việc kết hợp chữa bệnh giữa tây y, cổ truyền và cúng bái. Sự kết hợp chữa bệnh rất khác nhau giữa các cộng đồng, các gia đình, các trường hợp cụ thể và thời điểm. Khi ốm đau, người ta có thể chỉ dùng một trong ba phương cách trên, hoặc hai hoặc cả ba. Và trình tự của sự kết hợp, mức độ nhấn mạnh đến một trong ba phương cách là rất khác nhau. Có thể trước hết là cúng bái, và dùng thuốc lá dân tộc cổ truyền nếu bệnh không khỏi hoặc nặng hơn mới đưa người bệnh đến cơ sở y tế tây y, công cộng hoặc tư nhân. Điều trị tây y không khỏi, họ chuyển đến thuốc dân tộc, và cúng bái được xem là biện pháp cuối cùng.

Như vậy, nghiên cứu trên cho thấy, khoảng cách giữa khả năng đáp ứng của hệ thống y tế Nhà nước và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cư dân TN còn quá lớn. Bởi vậy, các nhà làm chính sách, kế hoạch y tế mới chỉ quan tâm đến “cung” mà ít quan tâm đến “cầu” của việc chăm sóc sức khoẻ. Trong thực tế, “cầu” đóng vai trò còn quan trọng hơn nhiều trong việc quyết định và duy trì sức khoẻ của cư dân các dân tộc thiểu số TN. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm hơn đến hàng loạt các yếu tố khác như nước và vệ sinh môi trường, dinh dưỡng, chất lượng nhà ở, và mật độ dân cư hiện phần lớn các yếu tố này đang nằm ngoài tầm kiểm soát của y tế Nhà nước.



* Trung tâm Nghiên cứu dân số và Phát triển, Trung tâm KHXH và NVQG