Đánh giá chi phí - hiệu quả của các chương trình đào tạo cán bộ y tế thuộc dự án Dân số - Sức khoẻ gia đình

Đàm Khải Hoàn
 
Nguyễn Thành Trung
*


Đặt vấn đề

“Đào tạo cán bộ y tế” thuộc nội dung 1 của Dự án Dân số - Sức khoẻ gia đình (DS-SKGĐ) với tổng kinh phí 4,5 triệu USD, được tiến hành trong 7 năm. Mục tiêu của công tác đào tạo lại nhằm bổ sung, cập nhật, bù đắp những thiếu hụt và nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ và hoàn thiện chất lượng cung cấp các dịch vụ BVSKBMTE-KHHGĐ. Các hoạt động đào tạo luôn được theo dõi, đánh giá, cập nhật để đảm bảo tính liên tục và phù hợp mục tiêu cần thiết của chương trình. Để đánh giá hiệu quả của chương trình sau 5 năm thực hiện chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá chi phí - hiệu quả của một số chương trình đào tạo lại cán bộ y tế thuộc dự án DS - SKGĐ sau 5 năm thực hiện (1998-2002)”.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

-       Các cán bộ y tế đã được đào tạo lại do dự án DS-SKGĐ tổ chức.  

-       Đối tượng được hưởng lợi từ các chương trình đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

-       Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp phân tích chi phí để đánh giá hiệu quả kinh tế của chương trình đào tạo cán bộ y tế trên cơ sở phân tích các yếu tố chi phí và hiệu quả đạt được của các lớp đào tạo

-       Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng:

Chọn tỉnh: Chọn chủ đích 8/20 tỉnh dự án để nghiên cứu, các tỉnh được chọn đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau, đó là: Tuyên Quang, Hà Nam, Hưng Yên, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Đồng Tháp và Kiên Giang.

Chọn huyện: mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 3 huyện (theo quy định chọn mẫu phân tầng 1/3). Chọn bằng cách chia các huyện ra làm 2 khu vực: khu vực vùng cao (khó khăn) và khu vực vùng thấp (ít khó khăn), tổng số huyện điều tra là 24.

Chọn xã: Mỗi huyện chọn ngẫu nhiên 2 xã. Chọn bằng cách chia các xã của huyện ra làm 2 khu vực: khu vực vùng cao (khó khăn) và khu vực vùng cấp (ít khó khăn), tổng số xã điều tra là 48.

Chọn hộ gia đình có phụ nữ có con dưới 5 tuổi: Mỗi xã chọn ngẫu nhiên số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ có chồng và có con dưới 5 tuổi để điều tra.

Cỡ mẫu điều tra phụ nữ cho 1 huyện được xác định theo công thức tính cỡ mẫu của điều tra cắt ngang trong dịch tễ học mô tả: n = Z2. PQ/D3  tính ra n = 96. Tổng số hộ điều tra trong nghiên cứu là 1.935.

-       Kỹ thuật thu thập số liệu: Thu thập số liệu bằng các bảng hỏi được thiết kế sẵn.

Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các phần mềm SPSS 10.1 và EPIINFO 2000 để xử lý.

Kết quả

Khảo sát này chỉ tập trung phân tích chi phí hiệu quả vào một số chỉ báo chính, 40 chỉ cáo đã nghiên cứu như chi phí hiệu quả ở bệnh nhân khám và điều trị bệnh phụ khoa, bệnh nhân được siêu âm.

Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ: Hiệu quả của chương trình đào tạo cán bộ y tế xã về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ: hàng năm các hoạ động truyền thông, giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK) có được đẩy mạnh, kết quả là đã góp phần làm thay đổi rõ rệt hành vi của người dân về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ: Tỷ lệ bà mẹ có thai giảm trung bình được 1,57%/xã. ước tính trong 20 tỉnh dự án có khoảng 25 triệu dân, trong 5 năm thực hiện dự án tránh sinh được 150.000 trường hợp. Tuy không phải hoàn toàn nhờ có chương trình đào tạo lại về DS/SKSS/KHHGĐ, nhưng sự đóng góp của chương trình là rất có ý nghĩa. Theo kết quả nghiên cứu của Uỷ ban quốc gia DSKHHGĐ, trong báo cáo “Chi phí và lợi ích đầu tư vào chương trình DS-KHHGĐ ở Việt Nam (1979-2010), nếu chúng ta đầu tư cho hoạt động dân số cao (612 tỷ đồng) thì sẽ tiết kiệm được khoảng 90% của 107,2 nghìn tỷ đồng. Trung bình bỏ ra 1 đồng thì sẽ tiết kiệm được 7,6 đồng. Còn ở Thái Lan nghiên cứu cho thấy cứ 1 bạt (tiền Thái Lan) cho cho công tác KHHGĐ sẽ tiết kiệm được gần 40 bạt chi phí để phục vụ con người. Việc thực hiện KHHGĐ tiết kiệm được cho Nhà nước xấp xỉ 2 tỷ USD trong kế hoạch 1987-1991.

Chương trình làm mẹ an toàn ở các tỉnh dự án thực hiện tương đối tốt: Chăm sóc trước sinh cho các bà mẹ tốt hơn trước rõ rệt; tỷ lệ bà mẹ đẻ tại nhà được cấp gói đẻ sạch đã gia tăng. Kết quả này đã phản ánh sự chuyển biến tốt về hành vi chăm sóc trong khi sinh, mặt khác nó cũng là một chỉ báo đánh giá rất tốt hoạt động của nhân viên y tế thôn bản. Các kết quả trên là nguyên nhân chủ yếu giúp làm giảm tỷ lệ chết mẹ. Trung bình mỗi năm tăng thêm 2,17% phụ nữ đến khám và điều trị các bệnh phụ khoa, ước tính trong 5 năm ở 20 tỉnh của dự án sẽ tăng khoảng 112.500 phụ nữ đến khám và điều trị các bệnh phụ khoa.

Về hiệu quả từ các chương trình đào tạo cán bộ Trạm y tế xã trong công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em. Hàng năm ở các xã điều tra tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân đã giảm rõ rệt. Việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng bào thai chứng tỏ công tác chăm sóc trước sinh tốt, người mẹ đã được tư vấn về dinh dưỡng thai nghén tốt. Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp cũng đã giảm được khoảng 2,64%. Đặc biệt  là tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm được 23,6%0 và chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm được 28,8%0. Đây là những kết quả rất phấn khởi về chăm sóc trẻ em, chứng tỏ việc đào tạo lại về chăm sóc trẻ em cho cán bộ y tế cơ sở đã có những kết quả tốt.

Hiệu quả trong thực hiện chương trình DS-KHHGĐ biểu hiện tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai ở các xã hàng năm tăng thêm được 8%, kết quả này phù hợp với việc giảm sinh ở phần trên. Đặc biệt là số phụ nữ hút điều hoà kinh nguyệt và nạo phá thai cũng đã giảm rõ rệt. Công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ về kế hoạch hoá gia đình chứng tỏ kết quả, phụ nữ đã có những hành vi tốt về áp dụng các biện pháp tránh thai.

Về hiệu quả trong đào tạo lại cán bộ Trung tâm y tế huyện kỹ năng thực hiện công tác DS-KHHGĐ biểu hiện ở tỷ lệ các bà mẹ đến Trung tâm y tế huyện (TTYTH) hút điều hoà kinh nguyện giảm được 7,67%, nạo phá thai giảm 3,32%. Tỷ lệ các cặp vợ chồng đến TTYTH để thực hiện  các biện pháp tránh thai tăng 1,06%.

Về hiệu quả của chương trình đào tạo cán bộ TTYTH về công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em và cung cấp dịch vụ y tế cho bà mẹ. Sau 5 năm đào tạo lại cán bộ y tế, số bệnh nhân chữa bệnh phụ khoa ở TTYTH hàng năm tăng khoảng 2,63%. ước tính trong 5 năm ở 20 tỉnh dự án, các TTYTH đã khám và điều trị tăng khoảng 750.000 ca bệnh phụ khoa. Kết quả này phù hợp với kết quả ở xã, tức là số bệnh nhân điều trị bệnh có xu hướng tăng ở cả 2 tuyến thuộc y tế cơ sở. Điều này cho thấy người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của bệnh và tìm nơi có dịch vụ y tế tốt hơn để chữa trị. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ phụ nữ hút điều hoà kinh nguyệt, nạo phá thai cũng như các biện pháp tránh thai có can thiệp bằng kỹ thuật giảm nhưng tỷ lệ chung các cặp vợ chồng được TTYTH cung ứng các biện pháp tránh thai vẫn tăng, đó là do có sự gia tăng các biện pháp phi lâm sàng. Kết quả trên còn cho thấy số bệnh nhân được siêu âm chẩn đoán gia tăng rõ rệt qua các năm. Trung bình ở 24 huyện điều tra, tỷ lệ gia tăng hàng năm là 14,2%. ước tính số bệnh nhân được TTTYH ở 20 tỉnh dự án, siêu âm chẩn đoán trong 5 năm tăng khoảng 375.000 ca.

Chi phí cho các dịch vụ. Theo kế hoạch định mức chi phí đào tạo lại kỹ năng cho một học viên tuyến tỉnh, huyện về BVBMTE và KHHGĐ là 170 đô la (2.380.000đồng). Những kết quả cũng cho thấy chi phí chung đào tạo lại về kỹ năng cho một học viên tuyến tỉnh, huyện về BVBMTE&KHHGĐ hết 1.970.000 ± 219.700 đồng. ở Hưng Yên có mức chi cao nhất (2.236.800đồng/người), còn ở Kiên Giang có mức chi phí thấp nhất (1.579.400 đồng). Như vậy chỉ có tỉnh Hưng Yên là chi phí gần hết theo kế hoạch còn các tỉnh khác đều tiết kiệm.

Chúng tôi chọn ngẫu nhiên tỉnh Đồng Tháp để phân tích thấy: So với định mức kế hoạch chỉ riêng một loại hình đào tạo về BVBMTE&KHHGĐ cho cán bộ tỉnh, huyện ở tỉnh, qua các năm đều tiết kiệm. Tuy nhiên có sự chênh lệch rõ rệt về chi phí trung bình cho một học viên trong các năm: So với năm 1998 (năm chi phí cao nhất), năm 2000 chi phí thấp hơn 531.000 đồng, năm 2001 chi phí thấp hơn 143.000 đồng. Những chênh lệch trên thể hiện sự thiếu nhất quán trong việc chi tiêu. Điều này có thể giải thích tại sao có sự chênh lệch về chi phí về loại hình đào tạo này giữa các tỉnh.

Đánh giá chi phí chung việc đào tạo lại một học viên là cán bộ trạm y tế xã, phường về BVBMTE&KHHGĐ (học 1 tháng) ở 8 tỉnh chúng tôi thấy định mức chi phí theo kế hoạch cho đào tạo lại kỹ năng cho một học viên tuyến xã, phường về BVBMTE và KHHGĐ là 170 đô la (2.380.000 đồng). Nhìn chung chí phí cho loại hình đào tạo này ở các tỉnh đều tiết kiệm, kết quả còn cho thấy chi phí chung cho đào tạo lại một học viên là cán bộ trạm y tế xã về BVBMTE & KHHGĐ mới hết khoảng 1.996.100 ± 222.400 đồng; ở Kiên Giang có mức chi cao nhất (2.291.500 đồng/người) (gần bằng mức kế hoạch), còn ở Lâm Đồng có mức chi phí thấp nhất (1.594.000 đồng).

Chúng tôi chọn ngẫu nhiên tỉnh Lâm Đồng để phân tích thấy so với định mức kế hoạch chung loại hình đào tạo về BVBMTE & KHHGĐ ở xã, phường, qua các năm ở Lâm Đồng đều tiết kiệm hơn. Tuy nhiên có sự chênh lệch rõ rệt về chi phí trung bình cho một học viên trong các năm: so với năm 1998 là năm có mức chi cao nhất, năm 1999 chi phí đã giảm 642.400 đồng, năm 2000 giảm 496.800 đồng và năm 2001 giảm 311.300 đồng. Những chênh lệch trên cũng còn thể hiện sự thiếu nhất quán về chi tiêu. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả tình hình chung ở các tỉnh dự án.

Đánh giá chi phí chung cho việc đào tạo một học viên sử dụng máy siêu âm (học 1 tháng 2 đợt) ở 8 tỉnh cho thấy: chi phí chung cho đào tạo lại một học viên là cán bộ y tế huyện về sử dụng máy siêu âm hết khoảng 5.365.000 đồng (chi phí cho 2 đợt đào tạo); tổng chi phí cho chương trình này là 735.000.000 đồng. Đây là một chi phí đáng kể, nhưng lợi ích của nó đem lại chắc chắn cũng không nhỏ.

Chi phí chung cho đào tạo lại một học viên là cán bộ y tế huyện làm công tác giám sát chăm sóc sức khoẻ ban đầu BVBMTE/KHHGĐ hết khoảng 846.100 ± 236.300 đồng, ở Kiên Giang có mức chi cao nhất (1.227.200 đồng/người), còn Hưng Yên có mức chi phí thấp nhất (669.500 đồng).

Khi phỏng vấn phụ nữ về chất lượng hoạt động của trạm y tế trong vấn đề khám chữa bệnh phụ khoa thì có tới 97,1% số người được hỏi tin tưởng vào việc khám chữa bệnh của cán bộ trạm. Có tới 74,5% tổng số người được hỏi đánh giá cao tinh thần thái độ làm việc tích cực của cán bộ trạm. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy chi phí trung bình cho một phụ nữ bị bệnh phụ khoa được khám và điều trị tại trạm là 120.000đồng/người/lượt. Trong chi phí một đợt điều trị bệnh phụ khoa tại xã thấy rằng tiền chi phí cho thuốc men và dịch vụ y tế không nhiều chỉ khoảng 20% còn tiền ăn ở và sinh hoạt của người bệnh chiếm tới 13%. Chi phí mất đi do không làm việc của bệnh nhân là rất lớn chiếm tới 47% tổng chi phí.

Về chi phí đối với người phụ nữ bị bệnh phụ khoa được khám và điều trị tại Trung tâm y tế huyện: Kết quả nghiên cứu cho thấy cứ 100 bệnh nhân bị bệnh phụ khoa thì đến khám và điều trị tại trạm y tế xã là 65 người, đến TTYTH là 27 người, đến bệnh viện tỉnh là 8 người. Chi phí trung bình cho một bệnh nhân bị bệnh phụ khoa điều trị tại TTYTH như sau: tổng chi phí của một bệnh nhân trong một đợt điều trị bệnh phụ khoa là 169.000 đồng, trong đó chi phí về thuốc men cũng chỉ mất 17% (29.000 đồng), nhưng chi phí về ăn ở sinh hoạt của bệnh nhân và người nhà đã tăng lên 33% (55.000 đồng). Tiền đi lại tăng lên trung bình gấp 1,5 lần (15.000 đồng). Thiệt hại kinh tế do không làm việc của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân lên đến 41% tổng chi phí (70.000 đồng). Mức độ tin tưởng của người dân vào cán bộ TTYTH cao hơn tuyến xã, nhưng về mặt tinh thần thái độ làm việc của nhân viên y tế TTYTH thì cũng chỉ được đánh giá tương đương như cán bộ trạm y tế xã.

Về chi phí đối với phụ nữ bị bệnh phụ khoa được khám và điều trị tại bệnh viện tỉnh: tổng chi phí cho một đợt điều trị bệnh phụ khoa ở tuyến tỉnh khá cao, lên tới 1.528.000 đồng. Số tiền thuốc men và dịch vụ y tế chiếm tới 39% (600.000 đồng). Tiền ăn ở sinh hoạt của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân chiếm tới 40% (610.000 đồng), tiền đi lại chiếm khoảng 10% (150.000 đồng). Ngày điều trị trung bình của bệnh nhân ở bệnh viện tỉnh cũng tăng gấp 2,4 lần so với tuyến huyện.

Phân tích chi phí điều trị bệnh phụ khoa ở các tuyến cho thấy:

-       Về thuốc men và các dịch vụ y tế: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 20 lần so với điều trị tại TTYTH và gấp 25 lần điều trị tại trạm y tế xã. So sánh chi phí giữa tuyến huyện và xã thì tuyến huyện tốn gấp 1,2 lần so với tuyến xã, chi phí khác nhau này không đáng kể.

-       Về ăn ở và sinh hoạt: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 11 lần so với điều trị tại TTYTH và gấp 38 lần điều trị tại trạm y tế xã. So sánh chi phí giữa tuyến huyện và xã thì tuyến huyện gấp 3,4 lần so với tuyến xã. Sự khác nhau về chi phí ở các tuyến rất đáng kể.

-       Về đi lại: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 10 lần so với điều trị tại TTYTH và gấp 15 lần điều trị tại trạm y tế xã. So sánh chi phí giữa tuyến huyện và xã thì tuyến huyện tốn gấp 1,5 lần so với tuyến xã, chi phí khác nhau này không đáng kể.

-       Tốn kém và ảnh hưởng không nhỏ đến tổng chi phí do không làm ra của người bệnh. Bệnh nhân điều trị tại bệnh viện tỉnh thời gian điều trị trung bình dài dẫn tới phần thiệt hại kinh tế cao.

Từ phân tích trên, những bệnh nhân điều trị bệnh phụ khoa có thể lựa chọn nơi cung cấp dịch vụ ở tuyến cơ sở, hoặc ở trạm y tế xã hoặc ở Trung tâm y tế huyện chứ không nhất thiết là điều trị tại trạm bởi vì thiệt hại kinh tế không nhiều nhưng dù sao lên huyện cũng được hưởng chất lượng dịch vụ y tế cao hơn. Tuy nhiên trung bình số tiền tiết kiệm được là 1.359.000 đồng do bệnh nhân điều trị tại huyện mà không phải lên tỉnh là con số không nhỏ, đối với phụ nữ nông dân cần cân nhắc. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy việc đào tạo lại cho cán bộ y tế huyện xã về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ là hết sức có ý nghĩa, không phải chỉ có ý nghĩa về mặt chất lượng chuyên môn mà còn cả hiệu quả kinh tế.

Về chi phí – hiệu quả đối với phụ nữ bị bệnh phụ khoa không phải đi khám và điều trị tại TTYTH và bệnh viện tỉnh: chi phí – hiệu quả đối với phụ nữ bị bệnh phụ khoa không phải đi khám và điều trị tại TTYTH và bệnh viện tỉnh là rất lớn. Tuy không phải hoàn toàn kết quả là do chương trình đào tạo đem lại nhưng sự đóng góp của chương trình là không thể phủ nhận. Với tổng kinh phí đầu tư cho đào tạo cácn bộ trạm y tế xã về BVBMTE và KHHGĐ là 7,5 tỷ đồng, trung bình chi phí cho một người là 1.992.900 dồng, nhưng tính chung cho cả 20 tỉnh dự án, chúng ta đã giảm chi được khoảng là 55,1 tỷ đồng. Còn đối với kinh phí đầu tư cho đào tạo chuyên sâu về BVBMTE và KHHGĐ cho cán bộ TTYTH là 1,6 tỷ đồng, trung bình cho phí cho một người là 1.890.700 đồng, nhưng tính chung cho cả 20 tỉnh dự án, chúng ta đã giảm chi được khoảng 1.019,3 tỷ đồng. Đây là những con số hết sức thuyết phục để khẳng định chi phí – hiệu quả của chương trình.

Về chi phí đối với người bệnh có sử dụng dịch vụ siêu âm tại Trung tâm y tế huyện và bệnh viện tỉnh: chi phí trung bình cho một lần đi siêu âm tại TTYTH là 97.000 đồng trong đó tiền ăn ở sinh hoạt của bệnh nhân chiếm 55%, thực chi về dịch vụ siêu âm chỉ chiếm có 15%. Chi phí trung bình cho một lần đi siêu âm tại tỉnh là 206.000 đồng trong đó chi phí ăn ở và sinh hoạt của bệnh nhân chiếm tới 54%, chi phí cho dịch vụ siêu âm chỉ hết 9%. Như thế việc đào tạo cán bộ sử dụng siêu âm và tiến hành thực hiện siêu âm ở tuyến huyện đã giúp cho người dân tiết kiệm trung bình 109.000 đồng cho một ca. Đây là một con số hết sức có ý nghĩa với người nông dân. Nếu so sánh số tiền đầu tư cho việc đào tạo cácn bộ làm siêu âm ở Trung tâm y tế huyện thì sẽ thấy được hiệu quả cho chương trình đào tạo này. Với tổng kinh phí đầu tư cho đào tạo cán bộ làm siêu âm là 735 triệu đồng, trung bình chi phí cho một người là 5.365.000 đồng, tính chung cho cả 20 tỉnh dự án, đã giảm chi được khoảng  16,2 tỷ đồng. Đây cũng là một con số hết sức có ý nghĩa.

Kết luận

Về khám chữa bệnh phụ khoa

-       Trung bình cứ 100 bệnh nhân bị bệnh phụ khoa thì đến khám và điều trị tại trạm y tế xã là 65 người, đến TTYTH là 27 người và đến bệnh viện tỉnh là 8 người.

-       Chi phí về thuốc men và các dịch vụ y tế: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 20 lần so với điều trị tại TTYTH và gấp 25 lần điều trị tại trạm y tế xã, tuyến huyện chi phí tốn gấp 1,2 lần so với tuyến xã.

-       Chi phí về ăn ở và sinh hoạt: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 11 lần so với điều trị tại TTYTH và gấp 38 lần điều trị tại trạm y tế xã, tuyến huyện chi phí gấp 3,4 lần so với tuyến xã.

-       Về đi lại: bệnh nhân đến bệnh viện tỉnh tốn gấp 10 lần đến TTYTH và gấp 15 lần đến trạm y tế xã, tuyến huyện tốn gấp 1,5 lần so với tuyến xã.

-       Trung bình số tiền tiết kiệm được do bệnh nhân điều trị tại huyện mà không phải lên tỉnh là 1.359.000 đồng.

-       Chi phí hiệu quả của chương trình đào tạo về BVBMTE&KHHGĐ: với tổng kinh phí đầu tư cho đào tạo cán bộ trạm y tế xã là 7,5 tỷ đồng, nhưng tính chung cho cả 20 tỉnh dự án, chúng ta đã giảm chi được khoảng 55,1 tỷ đồng. Còn với kinh phí đầu tư cho đào tạo chuyên sâu cho cán bộ TTYTH là 1,6 tỷ đồng, nhưng tính cho cho cả 20 tỉnh dự án, chúng ta đã giảm chi được khoảng 1.019,3 tỷ đồng.

Sử dụng siêu âm chẩn đoán và điều trị bệnh:

Tiến hành thực hiện siêu âm ở tuyến huyện, chúng ta đã giúp cho người dân tiết kiệm trung bình 109.000 đồng cho một ca. Tổng kinh phí đầu tư cho đào tạo cán bộ làm siêu âm ở tuyến huyện là 735 triệu đồng, nhưng tính chung cho cả 20 tỉnh dự án, chũng ta đã góp phần giảm chi cho bệnh nhân được khoảng 16 tỷ đồng.



* Đại học y khoa Thái Nguyên