Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai ở vùng Bắc Trung bộ

 

                                                                        Võ Nhất Trí*


Sử dụng rộng rãi biện pháp tránh thai (BPTT) góp phần quyết định trong việc hạn chế mức sinh, thực hiện quy mô gia đình lý tưởng. Hiện nay, BPTT được sử dụng tương đối phổ biến ở hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam. Người ta coi đó như là một trong những phương cách hữu hiệu để thực hiện điều chỉnh mức sinh.

BPTT đã được sử  dụng trong nhiều năm qua ở Bắc Trung bộ, góp phần đáng kể điều tiết nhịp độ gia tăng dân số và quản lý mức sinh. Mức độ sử dụng BPTT ở vùng Bắc Trung bộ có xu hướng gia tăng, kể cả BPTT truyền thống lẫn BPTT hiện đại.

Số liệu biểu 1 cho thấy, năm 1995, tỷ lệ sử dụng BPTT của cả vùng chỉ đạt 63,26%, trong đó BPTT hiện đại là 55,88%; năm 2001 các tỷ lệ tương ứng là 75,7% và 68,3%. Mức độ sử dụng BPTT gia tăng đều đặn và tương đối ổn định chính là thành tố quan trọng nhất, quyết định đối với mức độ giảm sinh đã được nhìn nhận trong thời gian qua. Đạt được những kết quả  như vậy là nhờ công lao và sự đóng góp to lớn của các cấp quản lý, lãnh đạo các ban ngành, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số, từ tuyên truyền, giáo dục, vận động đến cung ứng dịch vụ, hậu cần.

Trong số các BPTT đã được sử dụng, chỉ có vòng tránh thai là được phụ nữ ở  đây ưa chuộng nhất, xu hướng cũng tăng lên theo thời gian. Năm 1995 số phụ nữ sử dụng vòng tranh thai là 46,84%, năm 2001 là 52,5%.

Tình hình sử dụng BPTT theo tuổi nhìn chung diễn ra theo xu hướng là: khi tuổi người phụ nữ tăng lên, tỷ lệ sử dụng các BPTT nói chung, BPTT hiện đại nói riêng đều có xu hướng tăng theo, cả ở thành thị lẫn nông thôn (biểu 2). Tỷ lệ tránh thai tăng dần và đạt cực đại ở tuổi 35-39, đến tuổi 40- 44 và 45- 49, tỷ lệ tránh thai giảm dần. Có lẽ do phụ nữ đến các độ tuổi này, nhiều người đã có đủ số con mong muốn và một số khác không còn khả năng sinh đẻ nữa. Ngày càng có nhiều phụ nữ kết hôn và sinh đẻ sớm nên tỷ lệ sử dụng BPTT các nhóm tuổi trẻ chiếm tỷ lệ  khá cao, cả ở thành thị lẩn ở nông thôn. Nhóm tuổi 15-19 đã có 20,6% số phụ nữ có chồng trong vùng sử dụng tất cả các BPTT, cùng nhóm tuổi này ở thành thị là 50%, ở nông thôn tỷ lệ đó thấp hơn một nửa so với thành thị (20%). Phụ nữ nhóm tuổi này sử dụng BPTT chủ yếu để giản khoảng cách giữa các lần sinh. Gần một nửa (45,55%) số phụ nữ 20-24 tuổi đang có chồng đã sử dụng các BPTT, cả truyền thống lẫn hiện đại để hạn chế sinh đẻ và giản cách lần sinh.

Phụ nữ trình độ học vấn thấp ít sử dụng các BPTT hơn so với số phụ nữ có trình độ học vấn cao. Chênh lệch giữa người có trình độ học vấn thấp (mù chữ) và người có trình độ học vấn cao nhất (tốt nghiệp PTTH bậc II tương đương lớp 12) là rất lớn, xấp xỉ 2 lần. Tình trạng đó xảy ra cả ở nông thôn lẫn ở thành thị. Đặc biệt ở thành thị, chênh lệch về mức độ tránh thai của phụ nữ ở hai cấp học cao nhất và thấp nhất vượt gần 3 lần.Trong thời gian tới cần tập trung nguồn lực, tác động mạnh  vào những đối tượng có học vấn thấp, nhằm  nâng cao tỷ lệ sử dụng BPTT và hạ giảm mức sinh ở những đối tượng này.  

 

Biểu 1:  Sử dụng các BPTT ca phụ nữ 15-49 tuổi đang có chồng vùng Bắc Trung bộ và cả nước  (1995-2001)

Đơn vị tính: %

Các BPTT

1995

1996

1997

1998

2001

I- Vùng Bc Trung b

 

 

 

 

 

1. BPTT hiện đại

55,88

58,95

60,89

63,64

68,3

Thuốc tránh thai

0,8

1,07

1,2

1,35

4,0

Vòng tránh thai

46,84

47,7

49,79

51,54

52,5

Tiêm

0,07

0,19

0,11

0,19

0,4

Màng ngăn, kem, viên sủi bọt

0,07

0,1

0,08

0,09

0,2

Bao cao su

4,21

3,68

3,49

3,46

4,6

Đình sản nữ

3,4

5,34

5,44

6,09

6,0

Đình sản nam

0,58

0,87

0,87

0,92

0,6

2. BPTT truyền thông

 

 

 

 

 

Tính vòng kinh, xuất tinh ngoài

6,74

8,65

7,57

7,39

7,1

3. Các biện pháp khác

0,82

0,73

0,52

0,7

0,3

4. Tổng tất cả các BPTT

63,26

68,35

68,95

71,77

75,7

II- Cả nước

 

 

 

 

 

1. Tổng tất cả các BPTT

63,8

68,3

 

71,9

73,9

2. BPTT hiện đại

49,2

52,0

 

57,9

61,1

Nguồn; kết quả điều tra BĐDS KHHGĐ năm 1995, 1996, 1997, 1998. Tng cc Thống kê. Điều tra BĐDS KHHGĐ 01/04/2001, NXB Thng kê, Hà Nội 2001, trang 38. Thông tin phc v lãnh đạo, s 20, trang 5.

 

Nghề nghiệp của phụ nữ cũng có ảnh hưởng nhất định đến mức độ sử dụng các BPTT. Phụ nữ làm việc trí óc thường sử dụng các BPTT nhiều hơn so với các đối tượng khác. Khoảng 77,3% số phụ nữ lao động trí óc sử dụng các BPTT, 62% trong số họ sử dụng BPTT hiện đại. Phụ nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tỷ lệ sử dụng BPTT tương đối cao (72% sử dụng BPTT, trong đó 65,16% sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại). Tiếp đến là số phụ nữ làm việc trong khu vực phi nghiệp (tương ứng là 70,35% và 57,91%) xếp sau cùng là số lao động dự trữ, chỉ có 61,5% trong số họ sử dụng BPTT hiện đại. Phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sử dụng BPTT cao hơn các đối tượng khác là do phụ nữ nông thôn quen dùng bao cao su, vì nó tiện và hợp với hoạt động lao động nghề nghiệp của họ.

 

Biểu 2:  Sử dụng BPTT của phụ nữ 15-49 tuổi đang có chồng vùng Bắc Trung bộ chia theo tuối, học vấn, nghề nghiệp, thành thị, nông thôn (1998)

                                                                                      Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu

Số PN hiện có chồng

Tt cả các BPTT

BPTT hiện đại

Chung

Thành thị

Nông thôn

Chung

Thành thị

Nông thôn

Tui

15-19

20-24

25-29

30-34

35-39

40-44

45-49

 

607

4099

5777

5683

5620

4196

3152

 

20,60

45,55

69,00

82,12

84,80

83,00

64,12

 

50,00

47,73

72,00

86,87

84,40

82,74

61,88

 

20,00

45,37

68,60

82,23

84,83

83,00

64,37

 

18,62

40,89

62,28

73,22

75,00

72,35

55,49

 

42,86

41,88

60,20

62,40

69,10

63,62

47,80

 

18,04

40,08

62,48

74,20

75,77

73,50

56,36

Trình độ học vấn

Chưa đi học

Chưa tốt nghiệp PTCS

TNPTCS (5-9)

TNPTTH bậc I (9-11)

TNPTTH bậc II (12)

 

573

2696

8451

1301

4372

 

48,30

63,50

67,70

75,10

76,30

 

30,30

72,73

70,27

73,75

79,17

 

49,54

63,04

69,67

74,4

75,30

 

41,36

56,23

63,06

66,07

65,10

 

21,20

59,50

58,95

61,70

59,40

 

42,50

56,10

63,36

66,38

66,98

Nghề nghiệp

Lao động trí óc

LĐ phi nông nghiệp

LĐ nông nghiệp

Lao động dự trữ

 

1362

2668

23983

1132

 

77,31

70,35

72,10

61,48

 

77,78

72,95

77,90

72,15

 

76,98

67,68

72,00

53,65

 

61,97

57,91

65,16

47,00

 

55,14

58,46

72,90

55,27

 

65,60

57,30

65,00

41,00

Chung cho vùng

29154

71,77

74,47

71,49

63,65

59,66

64,06

Ngun:Biu 02/SR và 06/SR kết quả Điều tra BDDS và KHHGĐ năm 1998, TCTK.

Mức độ sử dụng BPTT chung của phụ nữ khu vực nông thôn thấp hơn một ít so với khu vực thành thị (71,5% so với 74,5%). Điều này một phần là do khả năng cung ứng dịch vụ KHHGĐ ở thành thị tốt hơn so với nông thôn. Mặt khác, ở khu vực nông thôn địa bàn trải rộng, giao thông đi lại khó khăn, môi trường thông tin hạn chế, do đó điều kiện để phụ nữ tiếp cận với các dịch vụ KHHGĐ  ít thuận lợi hơn so với khu vực thành thị. Điều đáng phấn khởi là, mặc dầu mức độ sử dụng các BPTT nói chung ở khu vực nông thôn thấp hơn so với khu vực thành thị, nhưng tỷ lệ phụ nữ nông thôn sử dụng các BPTT hiện đại cao hơn so với khu vực thành thị (64,06% so với 59,66%). Đây một phần do trong thời gian qua công tác DS–KHHGĐ đã biết tập trung và giành nhiều nguồn lực ưu tiên cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng khó khăn, nơi đang có mức sinh cao. Hơn nữa do khu vực thành thị, mặt bằng dân trí cao hơn so với khu vực nông thôn, phụ nữ thành thị hiện có mức sinh đã thấp, ngoài BPTT hiện đại, họ còn sử dụng nhiều biện pháp tránh thai truyền thống khác.

 

Tóm lại, BPTT là một trong những phương tiện kỹ thuật được sử dụng rất phổ biến trong lĩnh vực quản lý mức sinh. Từ lâu, nhiều quốc gia đã sử dụng nó như một chỉ báo để đánh giá hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu chương trình DS-KHHGĐ và làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược tương lai. Vì vậy, mở rộng, đa dạng hoá các BPTT và duy trì sự ổn định của nó sẽ góp phần đáng kể trong việc  thực hiện điều tiết và quản lý mức sinh.



* Đại học Kinh tế quốc dân