Một số vấn đề về Chăm sóc sức khoẻ, kể cả chăm sóc bà mẹ trẻ em và KHHGĐ ở xã Tam bố (di linh, lâm đồng)

 


Đào Quang Vinh*


Tam Bố là xã miền núi, cách thị trấn Di Linh 15 km về phía Nam.  Toàn xã có 790 hộ, 5.217 nhân khẩu, mật độ bình quân 18 người/km2. Xã có 4 thôn (thôn I, II, IV, và V). Về cơ cấu tộc người: Thôn IV là nơi cư trú tập trung của các hộ người Kơho, thôn V là ngườì Mạ và Raglai, Thôn I đa số là các hộ người Hoa, phần lớn các hộ ở Thôn II là người Kinh.

Nhìn chung, Tam Bố là xã nghèo, cơ sở hạ tầng yếu kém, y tế và giáo dục chưa phát triển. Thôn IV và V là  những thôn nghèo nhất trong xã, hàng năm Nhà nước đều phải cứu đói.

Trạm y tế xã có 4 cán bộ và 2 nhân viên làm hợp đồng (1 bác sĩ, 3 y sĩ, 1 y tá, 1 dược tá bán thuốc). Trạm được xây dựng năm 1989, ngân sách xây dựng do xã và huyện cấp. Xã có duy nhất một bác sĩ về hưu, hiện đang hành nghề khám chữa bệnh  tại nhà nhưng không có giấy phép, xã không có cửa hàng thuốc tân dược và lang y. 3/4 thôn trong xã có nhân viên y tế thôn buôn (YTTB).  Họ được hưởng trợ cấp 40.000 đ/tháng (cho vùng 2) và 80.000 đ/tháng (cho vùng 3 - thôn V) ngân sách do Nhà nước cấp. Lương của nhân viên trạm y tế xã vào khoảng 400.000 - 500.000 đ/tháng. Tiền dịch vụ của trạm đủ trả tiền điện, nước, điện thoại, lương cho hai nhân viên đang công tác tại trạm theo chế độ  hợp đồng.

Bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở Tam Bố

Là một xã miền núi,  kinh tế còn nhiều khó khăn, văn hoá- xã hội chưa phát triển,  bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Số dân toàn xã chỉ là 5.217 người, nhưng có tới 5.000 lượt người/năm khám chữa bệnh. Nguyên nhân bệnh tật của cư dân trong xã chủ yếu do đói nghèo, ăn ở thiếu vệ sinh, hoặc thiếu  kiến thức cơ bản về phòng chống bệnh tật thông thường. Đó là các bệnh: Sốt rét trên 100 ca/năm, viêm đường hô hấp (phổ biến vào mùa lạnh) trung bình 200 ca/năm... Đặc biệt vào mùa hè hàng năm có tới 20-30% trẻ em bị tiêu chảy. Các loại bệnh khác: lỵ, cảm cúm, thương hàn, tai nạn...cũng khá phổ biến.

Các bệnh phổ biến ở Tam Bố gồm: tiêu chảy, kiết lỵ, viêm phổi, viêm phế quản, cúm... Đây cũng là những loại bệnh mà trẻ em ở đây hay mắc. Trong những năm gần đây, các loại bệnh trên có chiều hướng gia tăng, đặc biệt năm  2001, hầu hết các bệnh đó đều tăng cao. Gần đây, tai nạn giao thông và chấn thương cũng gia tăng đáng kể. Đây cũng là con số báo động trong vùng, trong đó có Tam Bố. Ngộ độc thức ăn, một bệnh tương đối mới, cũng có chiều hướng gia tăng. Dù đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, nhưng nguy cơ ngộ độc thức ăn không giảm đi, thậm chí còn ngày càng tăng.

Về phía người dân, cách đây khoảng hơn 10 năm, khi bị ốm đau, cư dân các dân tộc ít người ở Tam Bố thường cúng bái chữa bệnh, nhưng nay tình hình này đã giảm hẳn. Đa số người dân khi bị bệnh thường khám chữa bệnh ở trạm y tế. 2-5% tự mua thuốc chữa trước khi ra trạm khám  chữa bệnh. Hầu hết người bệnh đều khám, chữa ở trạm  y tế xã trước khi chuyển lên trung tâm y tế huyện.

Tình hình khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ở Tam Bố

Mặc dù mới được kiện toàn và củng cố trong những năm gần đây, còn rất mỏng cả về lực lượng cán bộ, lẫn cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men... nhưng trong những năm qua y tế Tam Bố đã có nhiều cố gắng vượt bậc trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân dịa phương.


Bảng 1: Tình hình khám chữa bệnh ở Tam Bố (1998-2002)

TT

Các chỉ số

1998

1999

2000

2001

1-3/02

1

Số lần khám chữa bệnh

- Tại trạm y tế

- Tại hộ gia đình

1958

2339

2153

2103

50

5810

5452

358

903

893

10

2

Số bệnh nhân điều trị nội trú

98

102

53

138

21

3

Số bệnh nhân điều trị ngoại trú

1706

1218

1613

566

102

4

Bệnh nhân chuyển tuyến

32

33

37

84

27

5

Số ngày điều trị nội trú

174

206

126

385

60

6

Số bệnh nhân chết

 

1

0

 

 

7

Hoạt động phòng bệnh

- Phòng chống bệnh lao

- Phòng chống sốt rét

  + Số bệnh nhân trong kỳ báo cáo

  + Số bệnh nhân lâm sàng

  + Số bệnh nhân là phụ nữ có thai

- Phong và hoa liễu

 

4

 

264

173

1

1

 

4

 

365

167

2

1

 

2

 

194

114

1

1

 

2

 

293

68

1

1

 

3

 

24

10

 

1


Đồng thời với khám chữa bệnh và CSSK ban đầu cho nhân dân, y tế Tam Bố còn tích cực phối hợp với y tế các cấp, vận động và tranh thủ sự hợp tác của các ngành, triển khai các chương trình y tế có quy mô quốc gia tại địa phương.  Các chương trình được triển khai ở Tam Bố bao gồm:

Thanh toán sốt rét: Mỗi năm tẩm màn bằng thuốc chống muỗi một lần. Chương trình cấp màn chống muỗi cho dân được duy trì thường xuyên. Các hộ từ 7 khẩu trở lên được cấp 2 màn/năm, hộ từ 6 khẩu trở xuống được cấp 1 màn/năm.

Phun thuốc diệt muỗi 2 lần/năm. Đồng thời, triển khai các chiến dịch phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, đậy kín chum vại đựng nước ăn...ngăn ngừa bọ gậy phát triển.

Hàng tháng chủ động tổ chức lấy máu của các bệnh nhân sốt làm  xét nghiệm, bình quân 20 mẫu máu/tháng. Mẫu máu được lấy ở những khu vực dân cư hay đi rừng, phân bố đều trong toàn xã. Bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ là sốt rét đều được làm xét nghiệm máu. Bệnh nhân có xét nghiệm máu dương tính, sẽ được điều trị theo phác đồ của chương trình. Những người, do hoàn cảnh đặc biệt, thường phải làm việc ở rừng, được cấp thuốc uống phòng chống sốt rét thường xuyên.

Tiêm chủng mở rộng: Hàng tháng y tế xã tiến hành tiêm phòng 6 bệnh nguy hiểm cho trẻ vào ngày 15-16. Gần như 100% số trẻ trong diện được tiêm chủng, uống vắc-xin đầy đủ. Ngoài những vắc-xin phòng 6 bệnh trong chương trình, y tế xã còn tổ chức tiêm vắc-xin phòng chống viêm não Nhật Bản và viêm gan B cho những người có nhu cầu. Những phụ nữ khi mang thai được tiêm phòng uốn ván hai mũi (theo qui định), 100% phụ nữ có thai được cấp viên sắt.

Phòng chống suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A: Hàng năm trạm y tế xã tổ chức hai đợt uống vitamin A cho trẻ từ 6-36 tháng tuổi (vào 1/6 và tháng 12). 100% số trẻ được theo dõi cân nặng, chiều cao. Nếu có trẻ suy dinh dưỡng (SDD) sẽ được điều trị theo kế hoạch của chương trình. Các bà mẹ được tập trung đến trạm, tập huấn, hướng dẫn nấu ăn cho trẻ. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn hẹp, việc đầu tư cho chương trình phòng chống SDD cho trẻ trong xã còn gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi SDD trong xã hiện nay là 28%, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD 24,8%.

Vệ sinh an toàn thực phẩm: Hàng tháng y tế xã kết hợp với trung tâm y tế huyện, kiểm tra an toàn thực phẩm tại các quán bán hàng. Các chương trình: Phòng chống tiêu chảy, Phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em (ARI)... được triển khai có hiệu quả... 

    Chương trình vệ sinh môi trường: được triển khai đồng thời với các chương trình y tế khác. Chương trình cung cấp nước sạch của Hội L'appel (Pháp) tài trợ, xây dựng hệ thống dẫn nước từ núi Brah Yang qua hệ thống bể lọc và đưa về các buôn. Tại các buôn có các vòi chảy công cộng để dân sử dụng. Nguồn nước trên núi được rào cẩn thận, để đảm bảo vệ sinh. Đến nay, 90% dân trong xã có nước sạch dùng. Tuy nhiên, lượng nước trên vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu nhân dân, đặc biệt là vào mùa khô.

Nhìn chung, công tác CSSK cộng đồng tại xã Tam Bố trong những năm qua đã được cải thiện nhiều. Từ khám chữa bệnh thông thường, đến các chiến dịch, chương trình y tế quốc gia: Thanh toán và phòng chống sốt rét, Tiêm chủng mở rộng, Thanh toán bệnh lao, Phòng chống tiêu chảy, Vệ sinh môi trường, Chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình... đều được triển khai, thực hiện khá hiệu quả.

Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân đạt kết quả tương đối cao, nhất là khám chữa bệnh tại nhà. Việc đáp ứng nhu cầu điều trị nội trú và ngoại trú ngày càng đông. Điều đó chứng tỏ hiểu biết, nhận thức về chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh phòng bệnh của người dân đã được nâng lên rõ rệt, lối sống văn minh đã ngày càng được cải thiện, các hủ tục lạc hậu đã dần được loại trừ. Đồng thời điều đó cũng chứng tỏ, y tế cơ sở ở Tam Bố đã hoàn thành tương đối tốt vai trò và nhiệm vụ của họ, trong việc CSSK nhân dân.

Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) được duy trì thường xuyên, hiệu quả cao. Số người sử dụng các biện pháp tránh thai tăng lên, nhận thức và hành vi của người dân về chương trình DS-KHHGĐ được cải thiện rõ rệt.        

Tuy nhiên, để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác y tế, CSSK cho nhân dân, vẫn còn nhiều vấn đề cần được chú ý ở Tam Bố hiện nay:

-       Phụ nữ mắc bệnh phụ khoa (đã được khám tại trạm ty tế) rất cao, thấp nhất  năm 1999 tỷ lệ đó cũng là 54,4%, cao nhất là quý I năm 2002 tỷ lệ là 73,3%. Những người mắc bệnh phụ khoa, chủ yếu là phụ nữ dân tộc thiểu số (Mạ, Kho...).

-       Phỏng vấn sâu phụ nữ ở Tam Bố, kết quả cho thấy: kiến thức vệ sinh kinh nguyệt, cũng như vệ sinh phụ nữ và đặc biệt là vệ sinh tình dục của chị em còn rất nhiều hạn chế. Vì thế tỷ lệ phụ nữ mắc các bệnh phụ khoa rất cao.  Điều này cũng một phần do hoàn cảnh lao động của địa phương gây nên. Thời gian làm việc trên nương rẫy, có khi kéo dài hàng tuần, phụ nữ thường phải tắm ở sông, suối trong rừng, nơi mà nguồn nước không được đảm bảo vệ sinh.

-       Tuy công tác phòng chống sốt rét những năm gần đây đã được cải thiện nhiều, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét có phần giảm hơn so với những năm  trước, nhưng chỉ giảm bệnh nhân sốt rét lâm sàng, còn bệnh nhân sốt rét chung, lại có chiều hướng tăng lên.

Công tác chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em (BVBMTE)/DS-KHHGĐ

Cùng với chăm sóc sức khoẻ, công tác chăm sóc BVBMTE/DS-KHHGĐ ở Tam Bố trong những năm qua cũng có nhiều tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên công tác dân số ở Tam Bố vần còn một số vấn đề đáng lưu ý:

-       Số trẻ chiếm tỷ trọng cao, riêng nhóm từ 0-14 tuổi đã chiếm 30,1% dân số.

-       Về giới tính, dân số là nữ nhiều hơn số dân là nam giới. Đặc biệt là ở nhóm 0-4 tuổi  và nhóm trên 50 tuổi. Như vậy có thể thấy tuổi thọ của nữ cao hơn của nam giới.

Bảng 2: Tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi ở Tam Bố, 2001

Nhóm tuổi của phụ nữ

Tổng số nữ trong độ tuổi

Số sinh trong năm

Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi

15-19

316

20

0,06

20-24

237

35

0,15

25-29

210

40

0,19

30-34

206

19

0,09

35-39

184

16

0,09

40-44

212

8

0,04

45-49

172

2

0,01

TFR

 

 

3,15

Bảng trên cho thấy, số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ xã Tam bố (TFR) là 3,15 con. Tỷ suất sinh chủ yếu tập trung trong hai nhóm  phụ nữ 20-24 và 25-29 tuổi. Tuy nhiên phụ nữ trong nhóm tuổi 15-19 cũng có tỷ suất sinh khá cao. Như vậy có thể thấy, tảo hôn trong nam nữ thanh niên của xã Tam Bố vẫn còn khá phổ biến. Tỷ suất sinh thô của toàn xã là 26,8%o, tỷ suất chết thô là 3,2%o. Như vậy tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 23,6%o.

Tuy vậy, chương trình DS-KHHGĐ trong những năm gần đây thu được nhiều kết quả rõ rệt. Trước kia chưa có chương trình dân số, mỗi cặp vợ chồng có tới 10-12 con là chuyện thường, ngày nay nhờ có chương trình dân số, tỷ lệ số hộ có nhiều con còn rất ít, duy nhất còn một cặp ở thôn IV có 10 con, còn lại những cặp khác, hầu như chỉ dừng lại ở 2 đến 5 con.

Từ khi có chương trình DS-KHHGĐ thì số cặp vợ chồng có nhiều con giảm đáng kể. Công tác DS-KHHGĐ tại xã Tam Bố mới thực sự có hiệu quả từ năm 1997. Trước đó nhận thức của người dân chưa cao, chỉ có người Kinh thực hiện các biện pháp KHHGĐ, phụ nữ các dân tộc ít người hầu như không tham gia. Đến nay, đã có 5 ca đình sản, trong đó có 2 ca là người Cơho. Nhìn chung, việc vận động đình sản gặp rất nhiều khó khăn, nhất là từ phía những người chồng. Đối với những hộ khá giả, vận động rất khó, họ muốn đẻ nhiều để có nhiều nhân lực.

Những khó khăn trong công tác DS-KHHGĐ hiện nay ở Tam Bố là:

-       Đa số người dân các dân tộc ở Tam Bố vẫn có tâm lý muốn đẻ nhiều. Những gia đình có nhiều ruộng đất thì rất khó vận động, vì họ muốn đẻ nhiều con trai để có người nối nghiệp trên những mảnh đất đó.

-       Do nhận thức còn rất thấp, đa số chị em phụ nữ các dân tộc ít người đều sợ: nếu đặt vòng, vòng sẽ chạy vào trong cơ thể, nên họ không dám đặt.

-       Do kinh phí hạn chế, trợ cấp cho cộng tác viên dân số rất thấp (20.000 đ/người/tháng), Khi cộng tác viên dân số đi phục vụ những ca đình sản tại Trung tâm Y tế huyện không được hưởng trợ cấp, trong khi đó họ phải tự túc kinh phí ăn ở, đi lại, có khi kéo dài hai, ba ngày.


 

Bảng 3: Số con trong các gia đình dân tộc Cơho ở thôn IV (6/2002)

 

 

Số con trong mỗi hộ gia đình dân tộc Cơho

Tổng

1 con

2 con

3 con

4 con

5 con

6 con

7 con

8 con

9 con

10 con

Số hộ

25

23

40

29

25

11

9

8

2

1

173

Tỷ lệ %

14,5

13,3

23,1

16,8

14,5

6,4

5,2

4,6

1,2

0,6

100

 

Trung bình trong một hộ gia đình dân tộc Cơho là: 3,8 con

 


  Bảng 4: Thực hiện KHHGĐ xã Tam Bố, Dinh Linh, Lâm Đồng (1-3/02)

 

Các chỉ số

Xí nghiệp I

Xóm 2

Xóm 3

Hiệp Thành

Thôn 4

Thôn 5

Tổng số

Nhân khẩu

403

277

800

1288

1309

904

4981

Số hộ

109

79

107

365

204

150

1014

Nữ 15-49

136

90

210

191

275

191

1093

Nữ15-49 có chồng

104

52

150

104

186

104

700

Đã tránh thai:

55

47

97

86

164

78

527

Vòng

15

29

47

12

62

6

171

Đình sản

0

3

4

25

8

0

40

Bao cao su

12

9

10

10

10

10

61

Thuốc uống

5

5

8

10

62

60

150

Khác

23

6

28

30

13

2

102

Chưa tránh thai:

49

5

53

18

22

48

195

Con một bề

10

0

20

3

2

3

38

³ 3 con

32

20

42

54

26

54

228


Bảng 5: Tình hình CSBVBMTE ở xã Tam Bố 1998-2001

 

TT

Các chỉ số

1998

1999

2000

2001

1-3/02

1

Tổng số đẻ

- Đẻ khó phải can thiệp

- Đẻ con thứ 3 trở lên

68

 

15

-

84

02

17

140

7

16

24

0

5

2

Tổng số trẻ đẻ ra sống

56

-

81

142

24

3

Số trẻ đẻ ra chết

0

-

0

0

0

4

Tổng số chết

15

-

21

21

1

5

Tổng số trẻ em chết

2

4

3

4

1

6

Số trẻ trong diện tiêm phòng

- BCG

- TDPT3

- Uống OPV3

- Tiêm phòng sởi

138

122

126

126

131

142

168

135

135

150

148

151

148

148

159

176

147

182

199

173

130

28

10

30

30

7

Số trẻ tiêm phòng đủ 6 loại

111

142

148

176

30

8

Số trẻ em được cân (sơ sinh)

- Trẻ dưới 2500 gram

57

2

69

2

81

2

130

6

24

0

9

Số trẻ suy dinh dưỡng

-

-

-

161

-

10

Số trẻ uống vitamin A

-

767

429

406

-


Nhận xét và khuyến nghị

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể, trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, Tam Bố vẫn còn rất nhiều khó khăn. Chính do những khó khăn đó, đời sống xã hội ở Tam Bố vẫn còn nhiều vấn đề cần đặc biệt quan tâm, trong đó có công tác y tế, CSSK cho nhân dân. Mô hình bệnh tật ở Tam Bố rất phức tạp, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rất cao, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy đã có nhiều cải thiện về nhận thức, nhưng nhận thức của người dân về CSSK chưa thật cao, các loại hình chữa bệnh theo kiểu cúng bái vẫn còn tồn tại. Đây là hạn chế không nhỏ trong việc triển khai công tác y tế, CSSK, CSSKSS cho nhân dân các dân tộc ở đây.

Nhìn chung, công tác khám chữa bệnh, CSSK ban đầu, CSSKSS, CSBVBMTE/DS-KHHGĐ ở Tam Bố trong những năm qua đã có nhiều tiến triển đáng mừng. Ngoài việc hạn chế được nhiều loại bệnh tật, hạn chế tỷ lệ tăng dân số, hạn chế tỷ lệ trẻ SDD, hạn chế tử vong ở phụ nữ và trẻ em , thanh toán các bệnh dịch nguy hiểm...nhận thức, thái độ và hành vi CSSK, phòng chữa bệnh, DS/KHHGĐ... của người dân cũng được nâng lên rõ rệt. Đây là một trong những thành công căn bản, đáng mừng ở Tam Bố. 

Tuy nhiên, để thực hiện tốt công tác y tế CSSK, DS/KHHGĐ ở Tam Bố, cần chú ý khắc phục một số vấn đề: 

-       Tăng cường vận động, giáo dục, tuyên truyền, hạn chế tới mức tối đa tâm lý muốn đẻ nhiều con,nhất là những gia đình có nhiều ruộng đất.

-       Bằng mọi cách nâng cao nhận thức cho chị em phụ nữ các dân tộc ít người về các kiến thức DS/KHHGĐ, phòng tránh thai, cách sử dụng các biện pháp tránh thai, xử lý khi có thai ngoài ý muốn....

-       Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tâng, trang thiết bị, thuốc men, biên chế đủ số cán bộ y tế cần thiết, nhất là y sỹ sản nhi, nữ hộ sinh trung học, dược tá cho trạm y tế xã và y tá trung học cho các buôn làng. Nâng cao trợ cấp cho phù hợp với nhiệm vụ công tác của y tế thôn abnr, CTVDS. Giải quyết trợ cấp hợp lý cho CTVDS, khi họ đi phục vụ các ca đình sản tới ở cơ sở y tế tuyến huyện, tỉnh.

-       Cần tuyệt đối tranh thủ sự phối hợp của các ngành, các đoàn thể quần chúng, trong việc xã hội hoá công tác y tế, CSSK, CSBVBMTE, DS/KHHGĐ, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, có hiệu quả nhất các nguồn đầu tư cho công tác này.

Đồng thời triển khai, đẩy mạnh các dự án phát triển kinh tế xã hội tổng thể, tăng cường xoá đói, giảm nghèo, tăng cường vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, buôn làng văn hoá... Nâng cao mức sống, nâng cao dân trí, phải gắn liền với y tế, CSSK, DS/KHHGĐ.



* Viện Dân tộc học