KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ  VÀ KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH 1/4/2007

 

 

I. Phân bố và cơ cấu dân số

1.1. Phân bố dân số theo lãnh thổ

Dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý – kinh tế. Dân số sống tập trung ở hai vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long nơi có 42% dân số của cả nước sinh sống, nhưng chỉ chiếm gần 17% đất đai của cả nước.

 

Biểu 1: Phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số chia theo vùng, Việt Nam 2007

 

Diện tích (%)

Dân số (%)

Cả nước

100,0

100,0

Đồng bằng sông Hồng

4,5

21,6

Đông Bắc

19,8

11,2

Tây Bắc

10,8

3,1

Bắc Trung bộ

15,6

12,6

Duyên hải Nam Trung bộ

10,0

8,5

Tây Nguyên

16,5

5,8

Đông Nam bộ

10,5

16,5

Đồng bằng sông Cửu Long

12,1

20,7

Ngược lại, hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, cả hai vùng chỉ có dưới một phần mười (8,9%) dân của cả nước, nhưng chiếm tới hơn một phần tư (27%) diện tích đất của toàn quốc.

1.2. Cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính

Do mức độ sinh đã giảm đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng đã làm cho dân số nước ta đã có xu hướng lão hoá với tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng.

Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 39 phần trăm trong năm 1989, xuống còn 33 phần trăm năm 1999 và tiếp tục giảm xuống còn 26 phần trăm năm 2007. Tỷ trọng người từ 65 tuổi trở lên của năm 1989 là dưới 5%, tăng lên 6% năm 1999 và đến năm 2007 đạt 7%.

 Biểu 2: Cơ cấu dân số theo giới tính và nhóm tuổi, Việt Nam, 1/4/2007

Nhóm tuổi

Nam (%)

Nữ (%)

Tổng số (%)

Tỷ lệ giới tính (%)

0-4

7,91

7,07

7,49

108,1

5-9

8,23

7,46

7,84

106,6

10-14

10,65

9,73

10,18

105,8

15-19

11,25

10,18

10,71

106,8

20-24

8,84

8,54

8,69

96,9

25-29

7,67

7,65

7,66

97,6

30-34

7,75

7,68

7,71

98,7

35-39

7,73

7,57

7,66

97,9

40-44

7,56

7,47

7,51

95,0

45-49

6,38

6,49

6,44

85,8

50-54

4,92

5,54

5,23

83,6

55-59

3,18

3,68

3,43

80,5

60-64

2,06

2,47

2,27

73,6

65+

5,87

8,47

7,18

66,6

Tỷ lệ phụ thuộc của Việt Nam giảm rất nhanh, từ 98 người dưới 15 và từ 60 tuổi trở lên trên 100 người trong độ tuổi 15-59 năm 1979 xuống 86 trên 100 năm 1989, 70 trên 100 năm 1999 và chỉ còn 54 trên 100 năm 2007. Điều này chứng tỏ gánh nặng dân số trong độ tuổi có khả năng lao động của nước ta ngày càng được giảm đi.

 Biểu 3: Tỷ lệ phụ thuộc qua các năm, Việt Nam, 1979-2007

 

TĐTDS 1979

TĐTDS 1989

TĐTDS 1999

TĐTDS 2007

Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (0-14)

84

73

56

39

Tỷ lệ phụ thuộc người già (60+)

14

13

14

15

Tỷ lệ phụ thuộc chung

98

86

70

54

Tỷ lệ phụ thuộc của dân số Việt Nam giảm chủ yếu là do hiệu quả của công tác kế hoạch hoá gia đình dẫn đến việc giảm tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (0-14 tuổi). Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em đã giảm từ 84 em từ 0-14 tuổi trên 100 người trong độ tuổi 15-59 năm 1979 xuống chỉ còn 39 trên 100 năm 2007.

II. Mức độ sinh

2.1. Tổng tỷ suất sinh

Xu hướng chung của mức độ sinh là giảm dần mặc dù có tăng lên đôi chút trong thời gian từ 1/4/2001 đến 31/3/2002 và đặc biệt là trong 12 tháng từ 1/4/2003 đến 31/3/2004. Tuy nhiên, TFR đã giảm mạnh trong thời kỳ từ 1/4/2004 đến 31/3/2005 (0,12 con) và trong 2 năm gần đây, mỗi năm tổng tỷ suất sinh đều giảm 0,02 con. Đến nay, TFR của Việt Nam đã ở dưới mức sinh thay thế.

Biểu 4: Tổng tỷ suất sinh, Việt Nam, 1998-2007

 

Thời kỳ nghiên cứu

Tổng tỷ suất sinh - TFR  (con/phụ nữ)

TĐTDS và nhà ở 1/4/1999

4/1998-3/1999

2,33

Điều tra biến động dân số 1/4/2000

7/1999-6/2000

2,28

Điều tra biến động dân số 1/4/2001

4/2000-3/2001

2,25

Điều tra biến động dân số 1/4/2002

4/2001-3/2002

2,28

Điều tra biến động dân số 1/4/2003

4/2002-3/2003

2,12

Điều tra biến động dân số 1/4/2004

4/2003-3/2004

2,23

Điều tra biến động dân số 1/4/2005

4/2004-3/2005

2,11

Điều tra biến động dân số 1/4/2006

4/2005-3/2006

2,09

Điều tra biến động dân số 1/4/2007

4/2006/4/2007

2,07

 Mức độ sinh của Việt Nam thuộc vào mức độ thấp so với mức độ sinh trung bình của các nước Đông Nam Á (TFR của cả khu vực này là 2,3 con). TFR của Việt Nam chỉ cao hơn mức độ sinh của 2 nước Đông Nam Á là Singapore (1,2 con) và Thái Lan (1,6 con) trong khi lại thấp hơn rất nhiều so với các nước Lào (4,4 con), Cămpuchia (3,6 con) và Philippin (3,2 con).

Biểu 5: Mức sinh (TFR) hiện thời của các nước ASEAN, 2006

Nước

TFR

Nước

TFR

Các nước ASEAN

Brunei

Campuchia

Indonesia

Lào

2,3

2,4

3,6

2,2

4,4

Malaysia

Mianma

Philippin

Singarpore

Thái Lan

2,7

2,2

3,2

1,2

1,6

Nguồn số liệu: 2006 ESCAP Population Sheet

2.2. Tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi

Đã có sự thay đổi đáng kể về mô hình sinh theo độ tuổi của dân số Việt Nam với xu hướng chuyển sang mô hình sinh muộn. Đối với dân số cả nước, mức độ sinh tăng từ 35 phần nghìn ở nhóm tuổi 15-19 lên 118 phần nghìn ở nhóm tuổi 20-24 và đạt trị giá cao nhất là 147 phần nghìn thuộc độ tuổi 25-29, sau đó mức sinh giảm rất nhanh theo độ tuổi, chỉ còn 77 phần nghìn ở nhóm tuổi 30-34, 28 phần nghìn ở nhóm tuổi 35-39. Tại nhóm tuổi cao nhất, mức độ sinh không đáng kể, chỉ  1 phần nghìn.

Biểu 6: Tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi của cả nước thời kỳ từ 1/4/2006 - 31/3/2007 chia theo thành thị, nông thôn

 

Toàn quốc (‰)

Thành thị (‰)

Nông thôn(‰)

15-19

35

28

37

20-24

118

95

125

25-29

147

130

155

30-34

77

63

84

35-39

28

21

33

40-44

7

5

10

45-49

1

1

1

TFR

2,07

1,70

2,22

Có sự khác biệt đáng kể về mức độ sinh giữa hai khu vực thành thị và nông thôn, đặc biệt là ở những nhóm tuổI có mức sinh cao. Ở nhóm tuổI 20-24, mức độ sinh của phụ nữ khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 30 điểm. Còn ở nhóm tuổi 25-29, chênh lệch này cũng tới 25 điểm.

2.3. Tỷ suất sinh thô

Xu hướng chung của tỷ suất sinh thô là giảm dần mặc dù có tăng lên đôi chút vào các năm 2001-2002 (tăng 0,4 phần nghìn so với 12 tháng trước đó) và đặc biệt là trong 12 tháng từ 1/4/2003 đến 31/ 3/2004 (tăng 1,7 phần nghìn). Tuy nhiên, CBR đã giảm tới 1,2 phần nghìn trong thời kỳ từ 1/4/2005 đến 1/4/2006 và giảm 0,5 phần nghìn trong 12 tháng trước cuộc điều tra 1/4/2007.

Biểu 7: Tỷ suất sinh thô Việt Nam 1998-2007

 

Thời kỳ nghiên cứu

Tỷ suất sinh thô - CBR  (phần nghìn)

 TĐTDS và nhà ở 1/4/1999

 Điều tra biến động dân số 1/4/2001

 Điều tra biến động dân số 1/4/2002

 Điều tra biến động dân số 1/4/2003

 Điều tra biến động dân số 1/4/2004

 Điều tra biến động dân số 1/4/2005

 Điều tra biến động dân số 1/4/2006

Điều tra biến động dân số 1/4/2007

4/1998-3/1999

4/2000-3/2001

4/2001-3/2002

4/2002-3/2003

4/2003-3/2004

4/2004-3/2005

4/2005-3/2006

4/2006-3/2007

19,9

18,6

19,0

17,5

19,2

18,6

17,4

16,9

2.4. Sự khác biệt về mức độ sinh theo vùng

Có sự khác biệt khá rõ về mức độ sinh giữa các vùng địa lý kinh tế. Nói chung, Tây Nguyên, Tây Bắc và Bắc Trung bộ luôn là những vùng có mức sinh cao. Cuộc điều tra biến động dân số 1/4/2007 đã cho thấy của Tây Nguyên tới 21,5 phần nghìn cao hơn tỷ suất tương ứng của vùng Đồng bằng Sông Hồng tới 5,3 phần nghìn. Tổng tỷ suất sinh của vùng Tây Nguyên tới 2,77 con trên một phụ nữ, cao hơn tổng tỷ suất sinh của vùng Đồng bằng Sông Hồng tới 0,66 con. Tỷ suất sinh thô của vùng Tây Bắc cũng tới 21,5 phần nghìn, tương ứng với tổng tỷ suất sinh là 2,39 con một phụ nữ.

Ngược lại, các vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long luôn là những vùng có mức sinh thấp. Mức độ sinh của hai vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã thấp hơn so với mức sinh thay thế, đặc biệt là ở vùng Đông Nam bộ, tổng tỷ suất sinh chỉ có 1,74 con một phụ nữ.

Biểu 8: Sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng, 2000-2006

Vùng

ĐTBĐDS 1/7/2000

ĐTBĐDS 1/7/2003

ĐTBĐDS 1/7/2005

ĐTBĐDS 1/7/2007

CBR

TFR

CBR

TFR

CBR

TFR

CBR

TFR

Toàn quốc

19,2

2,28

17,5

2,12

18,6

2,11

16,9

2,07

Đồng bằng Sông Hồng

18,0

2,2

17,1

2,2

17,2

2,06

16,2

2,11

Đông Bắc

19,2

2,3

18,2

2,2

19,2

2,28

17,8

2,18

Tây Bắc

28,4

3,5

23,2

2,7

22,5

2,48

21,5

2,39

Bắc Trung bộ

20,1

2,8

18,8

2,6

19,6

2,45

15,7

2,32

Nam Trung bộ

21,4

2,5

18,2

2,3

18,4

2,21

17,3

2,19

Tây Nguyên

29,2

3,8

23,3

3,1

23,9

3,07

21,5

2,77

Đông Nam bộ

19,1

2,1

16,0

1,8

17,3

1,85

16,3

1,74

ĐB sông Cửu Long

18,8

2,1

17,1

1,9

18,1

2,00

16,3

1,87

2.5. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên

Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên giảm liên tục từ cuộc điều tra 1/4/2002 đến cuộc điều tra 1/4/2007, đặc biệt là trong 12 tháng trước 1/4/2007. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba đã giảm từ 20,8% theo cuộc điều tra năm 2005 xuống chỉ còn 18,5% trong cuộc điều tra năm 2006 và chỉ còn 16,7% trong cuộc điều tra 1/4/2007.

Biểu 9: Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên trong năm

Vùng

ĐTBĐDS 1/4/2003

ĐTBĐDS 1/4/2004

ĐTBĐDS 1/4/2005

ĐTBĐDS 1/4/2006

ĐTBĐDS 1/4/2007

Toàn quốc

21,5

20,2

20,8

18,5

16,7

Thành thị

12,6

11,5

11,6

10,0

9,0

Nông thôn

24,2

23,2

23,7

21,4

19,3

Đồng bằng Sông Hồng

15

15

17

14,7

13,7

Đông Bắc

18

18

19

17,1

15,0

Tây Bắc

30

21

23

20,7

17,7

Bắc Trung bộ

30

29

29

28,3

23,5

Nam Trung bộ

27

26

23

22,4

21,8

Tây Nguyên

38

36

39

32,2

30,0

Đông Nam bộ

19

17

17

14,3

13,8

ĐB sông Cửu Long

17

16

16

13,9

12,6

Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm phụ thuộc rất chặt vào trình độ học vấn của phụ nữ. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm của những phụ nữ chưa đi học tới 53,1%, giảm dần xuống còn 28,1% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 19,4% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 15,3% đối với phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 4,5% đối với phụ nữ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên.

 

III. Mức độ chết

3.1. Mức độ và sự khác biệt về mức độ chết theo vùng

Tỷ suất chết dưới 1 tuổi (IMR) của cả nước là 16 phần nghìn và tỷ suất chết thô là 5,3 phần nghìn. So sánh tỷ suất chết thô (CDR) qua các năm đã cho thấy CDR của nước ta, cũng giống như các nước trong khu vực, có sự dao động lên xuống, nhưng không nhiều.

 Biểu 10: Tỷ suất chết dưới 1 tuổi và tỷ suất chết thô qua các cuộc điều tra 1999-2007

 

Thời kỳ nghiên cứu

Tỷ suất chết dưới 1 tuổi (IMR)

Tỷ suất chết thô (CDR)

TĐTDS và nhà ở 1/4/1999

  Điều tra biến động dân số 1/4/2003

 Điều tra biến động dân số 1/4/2004

 Điều tra biến động dân số 1/4/2005

 Điều tra biến động dân số 1/4/2006

 Điều tra biến động dân số 1/4/2007

4/1998-3/1999

4/2002-3/2003

4/2003-3/2004

4/2004-3/2005

4/2005-3/2006

4/2006-3/2007

37

21

18

18

16

16

5,7

5,8

5,4

5,3

5,3

5,3

 

Mặc dù mức độ chết dưới 1 tuổi có sự khác biệt giữa các vùng. Đáng lưu ý là ở ba vùng khó khăn nhất của nước ta Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên các tỷ suất chết vẫn còn cao.

Biểu 11: Tỷ suất chết dưới 1 tuổi qua các cuộc điều tra 1999-2007

Vùng

ĐTBĐDS 1999

ĐTBĐDS 1/4/2003

ĐTBĐDS 1/4/2005

ĐTBĐDS 1/4/2007

Toàn quốc

37

21

17,8

16

Đồng bằng Sông Hồng

27

15

11,5

10

Đông Bắc

41

29

23,9

22

Tây Bắc

58

37

33,9

29

Bắc Trung bộ

37

22

24,9

20

Nam Trung bộ

41

17

18,2

17

Tây Nguyên

64

29

28,8

27

Đông Nam bộ

24

10

10,6

10

ĐB sông Cửu Long

38

13

14,4

11

 3.2. Nguyên nhân chết

Số người chết trong 12 tháng trước thời điểm điều tra chủ yếu là do bệnh tật (84,5%). Tỷ trọng chết vì các loại tai nạn chiếm 8,0% cao hơn một chút so với lý do chết vì các nguyên nhân khác 6,6%).

Biểu 12: Tỷ trọng người chết trong 12 tháng trước điều tra (Từ 4/2006 đến 3/2007) chia theo nguyên nhân chết, giới tính và thành thị/nông thôn.

 

 

Tổng số

Nguyên nhân chết

Bệnh

Tai  nạn lao động

Tai nạn giao thông

Tai nạn khác

Nguyên nhân khác

Toàn quốc

 

 

 

 

 

 

Tổng số

100,0

85,4

1,0

4,7

2,3

6,6

Nam

100,0

83,1

1,3

6,4

2,8

6,5

Nữ

100,0

88,8

0,6

2,3

1,6

6,7

Thành Thị

 

 

 

 

 

 

Tổng số

100,0

85,8

0,7

4,9

1,9

6,7

Nam

100,0

82,8

0,9

6,8

2,3

7,2

Nữ

100,0

90,4

0,2

2,1

1,2

6,0

Nông thôn

 

 

 

 

 

 

Tổng số

100,0

85,3

1,1

4,7

2,5

6,5

Nam

100,0

83,2

1,4

6,3

2,9

6,3

Nữ

100,0

88,3

0,7

2,4

1,8

7,0

 

Trong các nguyên nhân chết vì tai nạn, tai nạn giao thông chiếm tỷ trọng cao hơn cả, cao gấp 5 lần so với tai nạn lao động (4,7% so với 1,0%). Tỷ trọng chết vì các loại tai nạn của nam giới cao gấp hơn 2 lần so với nữ giới (10,5% so với 4,5%). Ở cả  khu vực thành thị và khu vực nông thôn đều có xu hướng tương tự.

4. Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai

4.1. Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai

Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai (CPR) của Việt Nam tăng từ 1 điểm phần trăm trở lên trong 3 năm qua. Đối với tất cả các biện pháp tránh thai, CPR của Việt Nam tại thời điểm 1/4/2006 tăng 1,2% so với 1 năm trước đó, từ 76,8% lên 78,0%. CPR của Việt Nam tiếp tục tăng một phần trăm 1 năm sau đó và tới thời điểm 1/4/2007 đã đạt mức (79%).

Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 1/4/2007 đã đạt mức 68,2%, cao nhất từ trước tới nay,. Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai không hiện đại hiệu quả thấp tiếp tục giảm đi, tuy không nhiều.

Biểu 13: Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của Việt Nam, 1998-2007

 

CPR(%)

Chia ra

Hiện đại(%)

Không hiện đại(%)

1/4/1998

71,9

57,9

14,0

1/4/2001

73,9

61,1

12,8

1/4/2002

76,9

64,7

12,2

1/4/2003

75,3

63,5

11,8

1/4/2004

75,7

64,6

11,1

1/4/2005

76,8

65,7

11,1

1/4/2006

78,0

67,1

10,9

1/4/2007

79,0

68,2

10,8

 

 

 

 

4.2. Sự khác biệt về sử dụng biện pháp tránh thai theo độ tuổi

Mô hình sử dụng các biện pháp tránh thai theo độ tuổi tương đối giống nhau qua các năm. Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng dần theo độ tuổi và đạt giá trị cực đại tại nhóm tuổi 35-39 (đối với tất cả các biện pháp và các biện pháp hiện đại). Tỷ lệ phụ nữ trong nhóm tuổi 35-39 sử dụng các biện pháp tránh thai tại thời điểm 1/4/2007 tới 89,6% trong đó có 77,8% sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại.

 

Biểu 14: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi hiện đang có chồng, hiện đang sử dụng biện pháp tránh thai chia theo nhóm tuổi. Việt Nam, 1998-2007

Nhóm tuổi

Tất cả các biện pháp(%)

Trong đó: các biện pháp hiện đại(%)

1998

2003

2005

2007

1998

2003

2005

2007

Toàn quốc

71,9

75,3

76,9

79,0

57,9

63,5

65,8

68,2

15-19

19,3

23,2

23,4

28,2

16,2

18,7

20,2

24,7

20-24

49,3

51,1

51,1

55,4

41,1

44,1

45,2

48,9

25-29

71,8

71,3

72,4

73,4

58,6

61,9

63,6

64,8

30-34

82,9

82,1

83,5

84,4

67,3

70,6

72,7

74,3

35-39

86,1

86,3

88,3

89,6

69,4

73,8

75,7

77,8

40-44

81,0

84,1

88,0

89,4

62,9

69,2

73,3

75,8

45-49

56,6

70,7

70,9

75,2

43,2

55,6

57,9

62,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai của phụ nữ ở những độ tuổi trẻ tăng nhanh hơn so với độ tuổi trung niên cả về tốc độ tăng cũng như mức tăng tuyệt đối.

4.3. Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai

Năm 2007, trong số những phụ nữ hiện không sử dụng các biện pháp tránh thai, lý do muốn có con chiếm 41,3%, lý do đang mang thai chiếm 14,2%. Trong số lý do khác (43,5%), lý do không sử dụng biện pháp tránh thai do đã mãn kinh cũng chiếm tỷ lệ khá lớn (14,4%), đặc biệt là những phụ nữ đã lớn tuổi. Các lý do không biết, khó kiếm hoặc bị chồng phản đối chiếm tỷ trọng khá nhỏ, với tỷ lệ tương ứng là 0,8,% và 0,5%.

Biểu 15. Tỷ trọng phầm trăm không sử dụng BPTT theo 3 lý do chính

 

1/4/2001

1/4/2005

1/4/2006

1/4/2007

Tổng số

100,0

100,0

100,0

100,0

Đang mang thai

12,4

11,8

13,6

14,2

Muốn có con

35,9

39,2

38,4

42,3

Lý do khác

51,7

49,0

48,0

43,5

 

 

 

 

4.5. Nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt

Tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt (ĐHKN) trong 12 tháng trước thời điểm điều tra (từ 1/4/2006 đến 1/4/2007) của phụ nữ có chồng trong độ tuổi 15-49 là 0,7%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với kết quả của cuộc điều tra 1/4/2006. Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN của cả nước giảm ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, đặc biệt là khu vực thành thị. Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN trong 12 tháng từ 1/4/2006 đến 1/4/2007 của phụ nữ thành thị có chồng trong độ tuổi 15-49 chỉ bằng một nửa so với một năm trước đó (giảm từ 1,4% xuống còn có 0,5%).

Biểu 16: Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN của phụ nữ 15-49 tuổi

Năm

Tỷ lệ nạo/phá thai và hút ĐHKN (%)

Cả nước

Thành thị

Nông thôn

1996

1,8

2,3

1,6

1997

1,5

2,1

1,3

1998

1,5

1,9

1,4

2001

1,3

1,7

1,2

2002

1,1

1,1

1,1

2003

1,7

1,9

1,7

2004

1,2

1,3

1,2

2005

1,0

1,0

1,0

2006

1,1

1,4

0,9

2007

0,7

0,5

0,7

NGUỒN: TỔNG CỤC THỐNG KÊ