TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHÍNH SÁCH KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH TẠI TRUNG QUỐC

 

 

Cuối năm 1949, dân số  Trung Quốc (không kể Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao) là 541,6 triệu người, với tỉ lệ sinh là 36‰, tỉ lệ chết là 20‰, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 16‰  và tổng tỉ suất sinh là 6,14 con. Theo tổng điều tra  dân số lần đầu tiên, năm 1953, tổng số dân Trung Quốc vào khoảng 601,938 triệu người.

Năm 1956, tại Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ VIII, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nêu trong Báo cáo về những gợi ý cho việc tổ chức kế hoạch 5 năm lần II  để phát triển nền kinh tế quốc gia: “ Tỉ lệ sinh nên được kiểm soát một cách thích hợp”.

Tháng 7 năm 1957, Ma Yinchu đề xuất “Thuyết dân số mới” tại kỳ họp thứ 4 của Đại hội đại biểu nhân dân khoá I (Quốc hội Trung Quốc), nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát việc tăng dân số để phát triển kinh tế.

Trong  kỳ họp Quốc hội Trung Quốc lần thứ hai tổ chức tháng 4/1960, Bản Kế hoạch Phát triển Nông nghiệp Quốc dân do Ban chấp hành Trung ương đảng công sản Trung Quốc (CPC) đã được thông qua. Theo mục 29 của Bản Kế hoạch, “ở những nơi có dân số đông ngoại trừ các vùng dân tộc thiểu số, việc kiểm soát tỉ lệ sinh cần được đẩy mạnh. Kế hoạch hoá gia đình cần được chấp nhận để đảm bảo các gia đình không bị quá tải về cuộc sống vật chất và trẻ em được giáo dục tốt hơn và có nhiều cơ hội về việc làm.”

18/12/1962, Ban chấp hành Trung ương (CPC) và Quốc hội đã đưa ra Hướng dẫn về việc đẩy mạnh KHHGĐ, theo đó một chính sách đã được xây dựng và phát động nhằm đẩy mạnh việc kiểm soát sinh và điều chỉnh tỉ lệ tăng dân số tự nhiên để quản lý sinh đẻ theo kế hoạch.

Năm 1968, Ban KHHGĐ trực thuộc Quốc hội đã được thành lập. Từ 11 đến 27/12/1973, Ban KHHGĐ đã tiến hành hội nghị, báo cáo toàn quốc về KHHGĐ, trong đó các chính sách KHHGĐ về “kết hôn muộn”, “dãn khoảng cách sinh” và “sinh ít con” được đề xuất.

·         Kết hôn muộn: Nam giới được phép kết hôn sau 25 tuổi và nữ giới trên 23 tuổi. Phụ nữ nên sinh con đầu lòng ở tuổi 24.

·         Dãn khoảng cách sinh: Thời gian từ khi sinh đứa con thứ nhất đến đứa con thứ hai ít nhất là 3 năm..

·         Sinh ít con: Mỗi cặp vợ chồng không nên sinh quá 2 con.

25/9/1980, Ban chấp hành đảng cộng sản Trung quốc (CPC) đưa ra thư ngỏ gửi tất cả các uỷ viên của CPC và thành viên của Hội liên hiệp thanh niên Trung Quốc về vấn đề hạn chế tăng dân số. Nhằm mục tiêu giữ tổng dân số của đất nước ở mức 1,2 tỷ người cho đến cuối thế kỷ XX, Ban chấp hành Trung ương kêu gọi tất cả uỷ viên trung ương và Hội liên hiệp thanh niên Trung Quốc, đặc biệt là lãnh đạo các cấp, các ngành gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành chính sách 1 con, ủng hộ và tuyên truyền chính sách trong nhân dân, với lòng kiên trì và trách nhiệm cao. Trong khi xúc tiến ý tưởng mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 con, việc kết hôn muộn và sinh con muộn cũng cần được chú trọng.

Ngày 9/2/1982, Ban chấp hành Trung ương và Quốc hội đã đưa ra Hướng dẫn thực hiện tốt công tác KHHGĐ, KHHGĐ cần tiếp tục ủng hộ “kết hôn và sinh đẻ ở tuổi trưởng thành và chỉ nên sinh 1 con”. Những yêu cầu bao gồm: Đối với các viên chức Nhà nước, công nhân, cán bộ và người dân sống trong thành phố và thị trấn, mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh 1 con, riêng những trường hợp đặc biệt phải được sự chấp nhận của chính quyền các cấp, ngành liên quan. Chính sách 1 con cũng được đẩy mạnh ở vùng xa xôi hẻo lánh. Đối với những người còn giữ nguyện vọng đòi được sinh con thứ hai do có những khó khăn cụ thể, họ có thể có quyền sinh con nếu được sự đồng ý của chính quyền địa phương. Nhưng việc sinh con thứ 3 bị ngăn cấm tuyệt đối. Đối với các dân tộc thiểu số, Chính sách 1 con cũng được áp dụng, song những quy định có thể được nới lỏng một cách vừa phải. Các điều luật chi tiết sẽ được sửa đổi cho phù hợp với phong tục tập quán cho từng vùng, miền. Các điều lệ chỉ có thể được sửa đổi sau khi có sự đồng ý của Quốc Hội hay chính quyền nhân dân ở cấp cao hơn.

Tại đại hội lần thứ 12 của đảng công sản Trung Quốc vào 1/9/1982, chính sách KHHGĐ đã được chính thức ban hành như một quốc sách cơ bản của Trung Quốc. Đồng thời, các chính sách KHHGĐ cụ thể cần được hoàn thiện chủ yếu là các vấn đề sau :

a)                       Đối với các vùng sâu vùng xa, Chính sách 1 con nên được nới lỏng nhưng vẫn được kiểm soát; các cặp vợ chồng trẻ sẽ được phép sinh thêm con thứ hai nếu đủ điều kiện và có sự cho phép của chính quyền.

b)                       Đặc biệt nghiêm cấm nới lỏng Chính sách 1 con ngoài tầm kiểm soát; ví dụ như sinh con thứ hai ngoài ý muốn hay sinh nhiều con đều không được chấp nhận.

c)                       Những việc làm sai quy chế nhằm mục đích trục lợi cá nhân hay lừa đảo đều bị ngăn cấm triệt để. Bất kể lãnh đạo nào sai phạm cũng đều bị kỷ luật nặng.

d)                       Đối với các dân tộc thiểu số, các chính sách KHHGĐ được sửa đổi cho phù hợp với từng vùng, miền. Với những dân tộc thiểu số với tổng số dân không tới 10 triệu người, mỗi cặp vợ chồng được phép sinh 2 con, và một số được sinh con thứ 3; nhưng không được phép sinh con thứ 4. Các qui định chỉ có thể được sửa đổi sau khi Quốc hội hay Chính quyền nhân dân ở cấp cao hơn đồng ý.   

12/5/1991, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc hội đưa ra Quyết định về Tăng cường công tác KHHGĐ để kiểm soát  tỉ lệ tăng dân số, xác định rõ xu hướng phát triển nhằm hạn chế tăng dân số như “phấn đấu giữ cho tỉ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm ở mức 12,5‰ trong vòng 10 năm tới”. Quyết định này được nêu trong Kế hoạch 5 năm lần thứ VIII để phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia của Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Quốc. Mục tiêu này là một bước tiến đáng kể trong việc bảo đảm sự thực hiện của mục tiêu chiến lược bước 2 và 3 trong sự nghiệp đổi mới hiện đại hoá Trung Quốc. Do đó, nhiều hoạt động được tiến hành nhằm củng cố sự lãnh đạo trong công tác KHHGĐ, thực hiện nghiêm các chính sách và quản lý KHHGĐ đúng với  pháp luật.

2/3/2000, Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc hội đã ban hành Quyết định về việc Đẩy mạnh công tác KHHGĐ và giữ mức sinh thấp, tuyên bố rằng các chính sách KHHGĐ hiện nay sẽ tiếp tục có hiệu lực. Theo Quyết định này, đến cuối năm 2010, tổng dân số Trung Quốc (không kể Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao) sẽ vào khoảng 1,4 tỷ người, với tỉ lệ sinh hàng năm không tới 15‰. Những đứa trẻ sinh ra sẽ khoẻ mạnh hơn; Tỉ lệ giới tính sẽ cân bằng hơn; Phụ nữ ở độ tuổi sinh sản sẽ được hưởng lợi từ các dịch vụ sức khoẻ sinh sản cơ bản; Những biện pháp tránh thai sẽ được truyền thông rộng rãi hơn; Một hệ thống KHHGĐ có cơ chế hoạt động hiệu quả và các chính sách hoàn thiện sẽ dần được thiết lập.

Luật Dân số và KHHGĐ của nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc đã được thông qua tại kỳ họp lần thứ 25 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 9 vào ngày 29/12/2001 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/9/2002. Trong luật này, lần đầu tiên chính sách quốc gia cơ bản về KHHGĐ đã được thiết lập dưới hình thức một đạo luật. Theo Luật, những người thực hiện KHHGĐ được hưởng 8 quyền, bao gồm:

a)       Quyền sinh sản;

b)       Quyền bình đẳng giữa nam và nữ được sinh ra trong chương trình KHHGĐ;

c)       Quyền được tiếp thu các thông tin và giáo dục liên quan đến KHHGĐ và sức khoẻ sinh sản;

d)       Quyền được sử dụng các biện pháp tránh thai và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản;

e)       Quyền được lựa chọn biện pháp tránh thai;

f)         Quyền được hưởng tiền thưởng, đối xử ưu tiên, phúc lợi xã hội và trợ cấp xã hội quy định bởi các điều luật quy định và quyền được phát triển bình đẳng;

g)       Quyền được bảo vệ của công dân và quyền sở hữu tài sản đối với các công dân thực hiện KHHGĐ;

h)       Quyền được cứu chữa hợp pháp.

Năm 2004, Uỷ ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá Gia đình (DS-KHHGĐ) và Bộ Tài chính đã ban hành Chương trình thưởng cho các hộ vùng sâu vùng xa đã thực hiện KHHGĐ, theo đó mỗi gia đình vùng hẻo lánh có 1 con hoặc 2 con gái hợp pháp sẽ được hỗ trợ về tài chính ít nhất là 600 Nhân dân tệ/người bằng quỹ đặc biệt của chính quyền trung ương và địa phương khi cặp vợ chồng đó 60 tuổi. Mục đích của chính sách này là để giúp các cặp vợ chồng già ở vùng xa xôi hẻo lánh đã thực hiện KHHGĐ có thể giải quyết các khó khăn trong cuộc sống thực tế bằng số tiền thưởng.

17/12/2006, Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc hội ban hành Quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc hội về vấn đề đẩy mạnh công tác Dân số & KHHGĐ một cách triệt để và trọng tâm phát triển dân số toàn diện, đặc biệt chú trọng đến những nhiệm vụ quan trọng liên quan đến dân số, gồm : ổn định tỉ lệ sinh thấp bằng mọi biện pháp; Nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ sơ sinh; Chú trọng tỉ lệ giới tính khi sinh cao; Không ngừng hoàn thiện các hệ thống quản lý và dịch vụ cho dân di cư và các vấn đề về già hoá dân số. Bản Quyết định cũng góp phần đẩy mạnh mục tiêu điều chỉnh dân số Trung Quốc: đến thời điểm kết thúc Kế hoạch 5 năm lần thứ 11, tổng số dân của quốc gia (không kể Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao) sẽ khoảng 1,36 tỷ người và đến cuối năm 2020 sẽ khoảng 1,45 tỷ người.

Các chính sách KHHGĐ cho người dân tộc thiểu số và dân cư ở các vùng xa xôi hẻo lánh ít nghiêm khắc hơn các chính sách cho người Hán và dân cư vùng đông dân. Đối với KHHGĐ ở Tây Tạng, chính quyền trung ương luôn tôn trọng các bản sắc, phong tục tập quán của địa phương.

Theo Điều khoản liên quan đến KHHGĐ của khu vực Tây Tạng, “ở Tây Tạng, các nguyên tắc về ‘khuyến khích thánh thai, lưu ý đến chất lượng chăm sóc và tôn trọng sự lựa chọn’ được thực hiện.” Đối với các cán bộ, công nhân và người thân của họ là người Hán tại Tây Tạng, Chính sách 1 con vẫn được thi hành; Các cán bộ, công nhân người Tây Tạng được khuyến khích kết hôn và sinh con muộn, và dãn khoảng cách sinh. Một cặp vợ chồng đã có 2 con cũng không được sinh thêm. Mặc dù vậy, các chính sách KHHGĐ không bắt buộc đối với nông dân và người chăn nuôi gia súc ở Tây Tạng.

          THANH AN
biên dịch từ China Population Today số 1, tập 25, 2008