KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

CỨU SỐNG HÀNG TRIỆU PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

                                                                                                RHONDA SMITH VÀ CỘNG SỰ

1. Giới thiệu

Theo báo cáo mới đây của Viện nghiên cứu dân số Hoa Kỳ, công bố ngày 16 tháng 3 năm 2009 tại Washington, DC, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là phao cứu sinh của hàng triệu phụ nữ và trẻ em ở các nước đang phát triển.

"Nghiên cứu gần đây đã chứng tỏ KHHGĐ làm tăng việc cứu sống, cải thiện sức khỏe của phụ nữ và trẻ em, và giúp đạt được các mục tiêu quốc gia. Theo "Rhonda Smith, đồng tác giả của báo cáo Kế hoạch hóa gia đình cứu sống nhiều người, "Ước tính mới nhất đã chứng tỏ rằng kế hoạch hóa gia đình có thể ngăn chặn được hơn 2 triệu trẻ em bị chết hàng năm và ngăn ngừa tới 1/3 tổng số chết của người mẹ". Trên thế giới những cái chết của người mẹ do mang thai và sinh đẻ ở mức hơn 1 người/1 phút.

"Kế hoạch hóa gia đình tạo ra một mạng lưới an toàn cho hàng triệu phụ nữ và trẻ em dễ bị tổn thương”. Jay Gribble, đồng tác giả của Báo cáo và là phó chủ tịch Chương trình quốc tế của Viện nghiên cứu dân số Hoa Kỳ nói. "Kế hoạch hóa gia đình tạo cơ hội về khoảng cách sinh có lợi cho sức khỏe, ngăn chặn sự lan truyền của HIV, giảm số trẻ trẻ sinh ra nhẹ cân, cho phép kéo dài thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai, đẩy lùi tử vong do sinh đẻ khiến những đứa trẻ mất mẹ và nuôi dưỡng kém"

Lựa chọn sử dụng rộng rãi KHHGĐ là kết quả của một trong số những thay đổi gây ấn tượng mạnh nhất của thế kỷ 20. Sự tăng nhanh của sử dụng các biện pháp tránh thai trên thế giới cho phép các cặp vợ chồng có thể lựa chọn số con và khoảng cách sinh con của họ, và mang lại lợi ích cứu sống rất lớn. Mặc dù đã đạt được những thành tựu sâu sắc này nhưng việc sử dụng các biện pháp tránh thai vẫn còn thấp và vẫn có nhu cầu về tránh thai ở một số khu vực nghèo nhất và những nơi đông dân nhất trên thế giới. Ước tính có tới 135 triệu phụ nữ chưa được đáp ứng yêu cầu về kế hoạch hóa gia đình - họ không sử dụng một biện pháp tránh thai nào, nhưng họ trả lời là muốn tránh thai.

Biện pháp tránh thai có tác dụng lâu dài được xem là “đắt hàng nhất” trong số những đầu tư về y tế,  KHHGĐ còn quan trọng hơn trong điều kiện tài chính eo hẹp như hiện nay. Vì các nước phải vật lộn với tình trạng suy thoái và tìm các biện pháp tốt hơn để co kéo ngân sách hạn hẹp, nên KHHGĐ nổi lên như một nguồn chi phí hiệu quả nhất, có giá trị can thiệp với hiệu quả cao. Ở mức chi phí bình quân cho một người sử dụng là 1,55 đô la Mỹ/năm, KHHGĐ là một phương pháp an toàn, có thể cung cấp và hiệu quả đối với các chính phủ nhằm làm giảm tình trạng đau yếu và chết chóc của mẹ và con, cũng như giảm chi phí y tế quốc gia cho sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em. Ở mức hộ gia đình, các gia đình có khoảng cách sinh phù hợp hơn, nghĩa là các gia đình có thể điều chỉnh ngân quỹ gia đình giành cho nuôi dưỡng, quần áo và học hành, bằng việc có ít con hơn.

2. Một số kết quả nghiên cứu

2.1. Cứu sống nhiều bà mẹ

Hầu hết phụ nữ đều vui sướng khi có thai và sinh con, tuy nhiên nguy cơ đau yếu và tử vong đi cùng với những sự kiện này rất cao ở một số nơi trên thế giới. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ chết do mang thai và sinh đẻ của phụ nữ là 1/75, hoặc cao hơn gấp khoảng 100 lần ở các nước phát triển (tỷ lệ 1/7300). Tiểu sa mạc Sahara Châu Phi là khu vực có nguy cơ cao nhất thế giới 1/22. Các chỉ báo về sức khỏe này, chứng tỏ tỷ lệ chết mẹ có sự khác biệt lớn rất lớn  giữa các nước giầu và các nước nghèo. Ước tính hàng năm toàn thế giới có 536.000 phụ nữ chết do mang thai và sinh đẻ, trong đó 99% xảy ra ở các nước đang phát triển – riêng Tiểu sa mạc Sahara Châu Phi  và Nam Á đã chiếm tới 86%.

Bảng 1. Nguy cơ tử vong mẹ do mang thai và sinh đẻ

Khu vực

Tỷ lệ

Thế giới

1/92

Các nước phát triển

1/7300

Các nước đang phát triển

1/75

Tiểu sa mạc Sahara Châu Phi

1/22

Châu Á

1/120

Mỹ la tinh và Caribê

1/290

                                                        Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới, 2007

Nhu cầu về kế hoạch hóa gia đình

            Nếu chỉ tính số phụ nữ có thai, muốn có thai, với khoảng cách sinh mong muốn, thì tỷ suất chết mẹ sẽ giảm khoảng 1/3. Một người mẹ có khoảng thời gian từ lúc sinh con đến lúc có thai tiếp theo dưới 5 tháng có nguy cơ chết cao gấp 2,5 lần so với các bà mẹ có có khoảng thời gian từ lúc sinh con đến lúc có thai tiếp theo từ 18 đến 23 tháng.

Ở các nước đang phát triển, ước tính có tới 137 triệu phụ nữ muốn tránh thai mà không sử dụng biện pháp KHHGĐ. Họ có nhu cầu về KHHGĐ nhưng không được đáp ứng. Số phụ nữ không được đáp ứng về nhu cầu này được chia làm hai nhóm: các bà mẹ muốn khoảng thời gian có thai tiếp theo ít nhất là 2 năm, và những bà mẹ muốn dừng có thai. Ước tính có tới 55% phụ nữ chưa được đáp ứng nhu cầu KHHGĐ này có nhu cầu giãn khoảng cách sinh và 45% có nhu cầu  hạn chế sinh.

 

Bảng 2. Nhu cầu KHHGĐ ở một số nước- Tỷ lệ % phụ nữ 15-49 tuổi có chồng muốn tránh thai

 

Hạn chế sinh

Khoảng cách sinh

Sử dụng dụng cụ

Nigeria

5

12

13

Tanzania

7

15

26

Pakistan

14

11

30

Uganda

16

25

24

Guartemala

13

15

43

Nepan

15

9

48

Bolivia

17

6

58

  Nguồn: Macro International.

Số liệu trên thể hiện nhu cầu tiềm năng về KHHGĐ ở một số nước, những số liệu về người đang sử dụng BPTT và phụ nữ có nhu cầu về KHHGĐ chưa được đáp ứng. Tiểu sa mạc Sahara có nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng cao nhất. Ở các khu vực khác trên thế giới, tỷ lệ có nhu cầu về KHHGĐ chưa được đáp ứng thấp hơn vì có nhiều phụ nữ trong những khu vực này sử dụng biên pháp KHHGĐ. Tuy nhiên, nhu cầu chưa được đáp ứng về KHHGĐ vẫn là một phần quan trọng của nhu cầu chung về KHHGĐ tiềm năng.

Tỷ lệ phần trăm phụ nữ đã kết hôn có nhu cầu về KHHGĐ nhưng không được đáp ứng

 

 

 

 

 

 


Nguồn: Macro International, Điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ, 2003-2006.

Phụ nữ có nhu cầu KHHGĐ chưa được đáp ứng vì nhiều lý do: thiếu hiểu biết về nguy cơ có thai; sợ tác dụng phụ của BPTT; ý kiến của  chồng, các thành viên khác trong gia đình, hoặc tín ngưỡng tôn giáo phản đối  KHHGĐ; hoặc thiếu tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ. Nhiều trong số những rào cản này có thể khắc phục thông qua thông tin và tư vấn tốt hơn cho cả phụ nữ và nam giới.

Giảm các trường hợp có thai ngoài ý muốn

Một trong những hậu quả được đáp ứng về nhu cầu KHHGĐ là có thai ngoài ý muốn. Trong số 210 triệu trường hợp mang thai hàng năm, có khoảng 80 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn. Có thai ngoài ý muốn là nguyên nhân chính của nạo phá thai. Mỗi năm, có khoảng 42 triệu phụ nữ quyết định không tiếp tục mang thai và tìm cách nạo phá thai. Ước tính có tới 20 triệu trường hợp nạo phá thai này được thực hiện do những người không có chuyên môn hoặc ở những nơi thiếu các điều kiện y tế tối thiểu, dẫn đến gần 67.000 người chết hàng năm. Hàng triệu phụ nữ khác phải chịu đau khổ lâu dài, bị tổn thương, thay đổi cuộc sống do những biến chứng của nạo phá thai không an toàn.

Tiếp cận an toàn, tư vấn tự nguyện và các dịch vụ KHHGĐ giảm đáng kể các trường hợp có thai ngoài ý muốn, các trường hợp nạo phá thai và cứu sống phụ nữ. Mối quan hệ giữa việc sử dụng các BPTT và tỷ lệ nạo phá thai ở các nước Đông Âu và Trung Á được thể hiện ở hình vẽ dưới đây.

Hình 2: Sử dụng tránh thai hiện đại và phá thai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các nước có tỷ lệ sử dụng các BPTT thấp nhất cũng là các nước nghèo về nguồn lực. Nghiên cứu từ Bangladesh về tác động của dịch vụ KHHGĐ đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ ở khu vực Matlab cho thấy ở khu vực có chất lượng dịch vụ cao, thì nhu cầu nạo phá thai giảm. Các nghiên cứu khác cũng cho biết ở các nước dịch vụ KHHGĐ được giới thiệu và tăng cường, thì tỷ lệ chết do nạo phá thai giảm do sử dụng dụng cụ tránh thai tăng.

Các biện pháp KHHGĐ

Tiến bộ về kỹ thuật y khoa trong 35 năm qua đã tạo khả năng cho mọi phụ nữ và nam giới lên kế hoạch sinh con của họ. Các biện pháp tránh thai trong đó có phương pháp uống thuốc (viên); tiêm hóc môn; cấy dưới da; dụng cụ tử cung (IUDs); triệt sản nam và triệt sản nữ; và các phương pháp màng ngăn như bao cao su của nam và nữ, màng chắn, chất diệt tinh trùng. Các biện pháp hiện đại khác trong đó có tính vòng kinh, tránh thai bằng hình thức cho con bú (LAM); Các biện pháp nhận thức về sinh đẻ như phương pháp theo dõi ngày bắt đầu và kết thúc chu kỳ kinh nguyệt; và các phương pháp dựa vào dấu hiệu cơ thể về sinh sản (dịch cổ tử cung, nhiệt độ cơ thể).

Các biện pháp tránh thai khẩn cấp có thể duy trì cho phụ nữ tránh thai sau khi sinh hoạt tình dục mà không sử dụng BPTT. Viên uống tránh thai khẩn cấp chứa hóc môn uống để tránh thai. Có thể dùng các liều cao hơn các liều uống thông thường hoặc uống thuốc tránh thai cho mục đích tránh thai khẩn cấp. Biện pháp tránh thai khẩn cấp không nên sử dụng thường xuyên, nhưng có thể giúp phụ nữ tránh thai nếu họ uống thuốc (tối đa 5 ngày sau khi có quan hệ tình dục). Trong khi không có biện pháp KHHGĐ “lý tưởng”, thì đây là phương pháp an toàn và hiệu quả cho mỗi phụ nữ. Các biện pháp KHHGĐ khác nhau về điều kiện, chi phí, hiệu quả, tác dụng phụ, nguy cơ, và lợi ích của từng cá nhân. Những người sử dụng các biện pháp KHHGĐ có thể đánh giá tốt nhất vai trò của các yếu tố này trên cơ sở lựa chọn của họ; quy mô gia đình mong muốn; giai đoạn của cuộc sống; các mục tiêu về ngăn cản, khoảng cách hoặc hạn định có thai trong tương lai; tình trạng sức khỏe; tình trạng quan hệ; và điều kiện sống. 

2.2. Cứu sống nhiều trẻ em

Khả năng sống sót của trẻ nhỏ đã tăng lên nhiều do tiêm chủng, cải thiện tình trạng dinh dưỡng, và sử dụng các loại thuốc chống mất nước. Đến nay có hơn 9 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển chết trước sinh nhật 5 tuổi.

Lợi ích từ giảm khoảng cách sinh

KHHGĐ là một phần nỗ lực quan trọng để cải thiện tình trạng sống của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trì hoãn sinh đẻ và tăng khoảng cách giữa các lần sinh tạo điều kiện cho các bà mẹ sinh con trong những năm khỏe mạnh nhất và cho phép họ có số con mong muốn.

Các chuyên gia y tế quốc tế hiện tin tưởng rằng khoảng thời gian có lợi nhất cho sức khỏe của một người mẹ giữa lần sinh trước đó và có thai tiếp theo ít nhất là 2 năm. Bằng việc ngăn chặn khoảng cách sinh con quá gần, KHHGĐ có thể cứu sống hơn 2 triệu trẻ sơ sinh và trẻ em hàng năm. Để giảm nguy cơ về sức khỏe của trẻ sơ sinh, các chuyên gia y tế khuyến nghị:

-         Sau khi sinh con, người mẹ phải đợi ít nhất là 2 năm, nhưng không nhiều hơn 5 năm để có thai lại.

-         Sau khi xẩy thai hoặc nạo phá thai, người mẹ nên đợi ít nhất là 6 tháng để có thai trở lại.

            Những khuyến nghị hoàn toàn phù hợp với khuyến nghị của Tổ chức Y tế  Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc khuyến nghị thời gian cho con bú ít nhất là 2 năm. 

Nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng những trẻ sinh sau đứa trước dưới 2 năm có tỷ lệ chết cao gấp đôi những đứa trẻ kém anh chị của chúng 3 tuổi.

Kế hoạch hóa gia đình cũng cải thiện tình trạng sống sót của trẻ sơ sinh thông qua việc tăng tuổi có thai lần đầu của phụ nữ. Những đứa trẻ do các bà mẹ trẻ sinh ra thường bị đẻ non nhiều hơn, nhẹ cân, và có những biến chứng do sinh đẻ. 

Ngăn ngừa HIV/AIDs

KHHGĐ đã cứu sống và tăng cường sức khỏe sinh sản thông qua việc giảm sự lây lan của HIV/AIDS và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác. Trên thế giới có 33 triệu người sống cùng với HIV năm 2007. Trong số những người bị nhiễm HIV này, ước tính có 15,5 triệu phụ nữ. Hiện nay, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 7.400 người lớn và trẻ nhỏ bị nhiễm HIV, và hơn 5.500 người chết vì căn bệnh tật này.

KHHGĐ có vai trò quan trọng đối với phụ nữ và trẻ em nhiễm HIV/AIDS, và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục họ không muốn bị rủi ro lây nhiễm qua bạn tình của họ. Bên cạnh việc kiêng khem và chỉ hoạt động tình dục khi các bạn tình không bị nhiễm bệnh, thì bao cao su tạo cơ hội bảo vệ tốt nhất phòng thai và nhiễm HIV. Bao cao su, nếu được sử dụng đúng cách và liên tục, là một biện pháp tránh thai hiệu quả nhất để ngăn chặn sự lan truyền của HIV qua đường tình dục, mặc dù nó ít hiệu quả hơn một số biện pháp khác trong việc ngăn ngừa sự có thai.

Các biện pháp KHHGĐ khác như viên uống, tiêm hóc môn và dụng cụ tử cung, không bảo vệ việc chống lại HIV. Các cặp vợ chồng muốn bảo vệ hiệu quả nhất cả nhiễm bệnh và có thai cần sử dụng hai phương pháp, bao cao su để ngăn ngừa sự lây nhiễm và các biện pháp khác để ngăn ngừa việc có thai ngoài ý muốn. Những nguy cơ và lợi ích của từng phương pháp, liên quan đến việc có thai và nhiễm bệnh, phụ thuộc vào từng người và cần phải được đánh giá dựa trên các mục tiêu và nhu cầu cá nhân. 

Cơ sở để ngăn chặn sự lây truyền HIV từ mẹ sang con là dụng cụ tránh thai để giảm các trường hợp có thai ngoài ý muốn ở các bà mẹ nhiễm HIV/AIDS. Nhiều bà mẹ dương tính với HIV (những người biết họ có vi rút) không muốn có thai, tuy nhiên số các trường hợp có thai không mong muốn trong số phụ nữ này khá cao. Theo nghiên cứu của chuyên gia, việc đảm bảo tiếp cận KHHGĐ trong các trung tâm y tế “có thể cứu sống hàng nghìn phụ nữ và trẻ em, và làm giảm đáng kể số trẻ mồ côi”. 

Một nghiên cứu khác mới đây gợi ý rằng trong khi mang thai phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn. Do vậy, thông qua việc ngăn chặn các trường hợp có thai ngoài ý muốn, KHHGĐ có vai trò quan trọng trong việc giảm số lượng phụ nữ và trẻ em bị nhiễm HIV. KHHGĐ cũng là biện pháp hữu hiệu để giảm chi phí liên quan đến HIV/AIDS. Các nghiên cứu cho thấy cứ 1 USD sử dụng cho KHHGĐ sẽ tiết kiệm được 25 USD để chăm sóc và cho các phương tiện điều trị HIV/AIDS theo chương trình đã đầu tư của tổ chức U.S. PEPFAR.

Phụ nữ có thể có được thông tin tốt hơn về BPTT, HIV và các bệnh lan truyền qua đường tình dục khác thông qua hợp nhất các chương trình KHHGĐ và HIV/AIDS. Những chương trình hợp nhất này có thể mang lại cơ hội giáo dục và tư vấn, quảng cáo bao cao su, chiếu phim về các bệnh lan truyền qua đường tình dục, cung cấp các dụng cụ tránh thai, điều trị HIV/AIDS, hoặc liên quan đến các dịch vụ này. Ở nơi phù hợp, các chương trình này cũng có thể cung cấp dịch vự tư vấn và xét nghiệm HIV tin cậy và tự nguyện. Các chương trình KHHGĐ và HIV kết hợp này có khả năng đáp ứng nhu cầu về sức khỏe sinh sản toàn diện của phụ nữ hơn nhiều so với các chương trình đơn lẻ.

2.3 Đầu tư chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Đầu tư cho dịch vụ KHHGĐ

Mỗi đô la đầu tư cho KHHGĐ mang lại nhiều lợi ích liên quan đến ngăn ngừa các trường hợp sinh không mong muốn và cứu sống nhiều người, làm cho KHHGĐ là một sự can thiệp về y tế vô cùng hiệu quả. Các nghiên cứu quốc tế khẳng định rằng KHHGĐ được xếp hạng trong số các dịch vụ y tế mang lại hiệu quả nhất, cùng với các chương trình y tế mang tính phòng ngừa khác như như tiêm chủng cho trẻ và ngăn ngừa HIV/AIDS

Mức chi phí bình quân năm về cung cấp BPTT ước tính khoảng 1,55 đô la Mỹ trên đầu người, dựa trên các phương pháp liên quan hiện có đã sử dụng ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, chi phí cho các chương trình cao hơn vì còn bao gồm chi phí cho sức khỏe cá nhân và chi phí cho các điều kiện để thực hiện và các chương trình khác. Chi phí cho các chương trình khác nhau giữa các khu vực và mức  chi phí trung bình là từ 2 đến 35 đô la/một năm cho một người, phụ thuộc vào kiểu phân phối dịch vụ, như tiếp thị xã hội, chăm sóc sức khỏe và phân phối trên cơ sở cộng đồng.

Chi phí ở Châu Phi có xu hướng cao hơn (không tính các trường hợp sinh con theo dịch vụ). Tuy nhiên, do nhiều chương trình sử dụng không đúng mức, nên các nhà nghiên cứu tin rằng mức chi phí bình quân cho một người sử dụng BPTT phải cộng thêm mức chi phí trung bình của cộng đồng - khoảng 1,55 đô la Mỹ /năm cho người mới sử dụng. Việc giảm đáng kể chi phí bình quân cho người sử dụng BPTT qua thời gian dài phụ thuộc vào sự thành công của các chính phủ trong việc tăng cường các trung tâm chăm sóc sức khỏe, tăng khả năng sẵn có của các BPTT và thông tin về các BPTT có tác dụng lâu dài, và hợp tác với khu vực tư nhân để cung cấp dịch vụ.

Đầu tư về KHHGĐ có thể mang lại kết quả tiết kiệm rất lớn cho khu vực y tế và giáo dục, và giúp các nước đạt được các mục tiêu phát triển. Nói đơn giản, bằng việc ngăn ngừa sinh con không chủ định, các nước sẽ có lợi thế để đáp ứng các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Họ sẽ đạt được những điều kiện thuận lợi về y tế, giáo dục và kinh tế vì họ có ít con hơn để dậy dỗ và tiêm chủng, ít nhu cầu hơn về nước sạch và dịch vụ vệ sinh, và ít phụ nữ có nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn.

Bảng 3. Chi phí để đáp ứng các nhu cầu KHHGĐ và kết quả tiết kiệm của một số nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhu cầu của người nghèo

Ở hầu hết các xã hội, những phụ nữ nghèo nhất là những người ít sử dụng các BPTT nhất. Những phụ nữ này cũng là những người có ít tiền nhất để chi trả cho dịch vụ KHHGĐ. Vì vậy, nguồn tài chính công đầu tư thông minh nhất là cung cấp cho các chương trình KHHGĐ tập trung vào các nhóm dân số nghèo nhất. Tuy nhiên, mọi nguồn hỗ trợ mà các chính phủ cung cấp cho KHHGĐ thường thuộc về những người giàu có nhất, vì các cặp vợ chồng khá giả lại muốn có gia đình ít con hơn, họ tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ KHHGĐ sẵn có. Một nghiên cứu ở 10 nước cho thấy 45% thuốc uống tránh thai và 56% bao cao su được cung cấp trực tiếp hoặc chính phủ bao cấp được phát cho những người có thu nhập trên mức nghèo, họ là những người có khả năng để mua các dụng cụ tránh thai từ các cửa hàng. Nghiên cứu gợi ý rằng việc sử dụng các BPTT tăng lên trong tương lai sẽ dẫn đến những nhu cầu không thể chứng minh được trước chính phủ và các tổ chức tài trợ. Vì vậy, các chính phủ phải đặt các nguồn mục tiêu vào nhóm nghèo và cận nghèo, những người không sử dụng các dụng cụ tránh thai cung cấp từ các cửa hàng, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân phục vụ nhu cầu của những người khá giả hơn. Mục tiêu các nguồn hướng vào người nghèo thành công chủ yếu dựa trên việc xác định các đặc điểm riêng hoặc các dịch vụ cung cấp cho những người sống trong các khu vực địa lý cụ thể.

Sự đa dạng của các chiến lược chương trình có thể duy trì nhằm mang lại nhiều lợi ích từ chương trình hơn cho các nhóm người có nhu cầu lớn nhất. Những ví dụ về chiến lược tiếp cận người nghèo gồm có: làm cho chương trình KHHGĐ trở thành một phần của chăm sóc sức khỏe ban đầu, đưa dịch vụ KHHGĐ đến gần cộng đồng hơn, và hợp tác với khu vực tư nhân để dịch vụ KHHGĐ sẵn có ở nhiều nơi hơn.

NGUYỄN THÁI HÀ dịch

Nguồn: Family Planning Saves Lives

(www.prb.org)