ĐIỀU TRA THƯC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM TÀN TẬT TẠI HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG

BS. Đỗ Văn Vinh*

PGS. TS. Nguyễn Thành Trung*

 

*I. Đặt vấn đề

ở Việt Nam, theo số liệu ban đầu tỷ lệ tàn tật khoảng 5,4% dân số trong đó có 40% là trẻ em (khoảng 5 triệu trẻ em tàn tật), tuỳ từng địa phương với cách điều tra khác nhau kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ em tàn tật cũng rất khác nhau, từ 1,04% đến 10,05% tổng số trẻ em [6].

Tỉnh Bắc Giang chưa có số liệu điều tra ban đầu về tỉ lệ trẻ em tàn tật. Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tàn tật ở trẻ em chưa được xác định. Vì vậy tháng 3-4/2005 chúng tôi tiến hành điều tra xác định tỉ lệ tàn tật ở trẻ em, nhằm "đánh giá thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tàn tật ở trẻ em tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang".

II. Đối tượng và phương pháp điều tra

1. Đối tượng điều tra:  Trẻ em từ 0 - 16 tuổi

Địa bàn điều tra : Chọn ngẫu nhiên 5 xã trong Huyện Lục Nam - Bắc Giang.

- Trẻ em trong diện điều tra do các cộng tác viên lập danh sách theo các hộ gia đình.

- Khám lâm sàng để phân loại các nhóm tàn tật theo WHO, trường hợp nghi ngờ gửi lên tuyến trên (bệnh viện) xác định lại.

III. Kết quả điều tra

Qua điều tra và khám lâm sàng 19.147 trẻ em từ  0 - 16 tuổi ở 5 xã kết quả thu được như  sau:

Bảng 1. Tỉ lệ trẻ tàn tật theo giới tính ở các xã

 

Tên Xã

Tổng số TE

Nam

Nữ

Chung

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

1. Đông Hưng

3.200

27

18,2

13

13,3

40

16,3

2. Bảo Đài

2.717

17

11,5

21

21,4

38

15,4

3. Bảo Sơn

3.975

31

20,9

20

20,4

51

20,7

4. Tan Dị

4.848

29

19,6

19

19,4

48

19,5

5. Nghĩa Phương

4.407

44

29,7

25

25,5

69

28,0

Tổng

19.147

148

100,0%

98

100,0%

246

100,0%

Nhận xét:

-          Tỉ lệ trẻ em tàn tật qua điều tra là 246 chiếm tỉ lệ 1,28%

-          Tỉ lệ trẻ tàn tật ở các xã giao động từ 1,0% - 1,56%.

-          Tỉ lệ trẻ em tàn tật ở nam  60,2% cao hơn nữ là 39,8% (P<0,05)

-          Tỉ lệ trẻ tàn tật so với dân số là 0,41%

       

Bảng 2. Tần suất tàn tật phân theo giới tính




Giới tính

Số loại tàn tật

Nam

Nữ

Chung

P

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

Một loại

78

52,7

50

51,0

128

52,0

>0,05

Hai loại

30

20,3

19

19,4

49

19,9

Ba loại trở lên

40

27,0

29

29,6

69

28,0

Tổng số

148

100

98

100

246

100

Nhận xét:

-          Chủ yếu là trẻ mắc 1 loại tàn tật (>50%), nhưng tỉ lệ trẻ mắc 3 loại tàn tật trở lên vẫn chiếm tỉ lệ cao (28,0%)

-          Không có sự phân biệt về giới tính khi đánh giá tần xuất tàn tật ở trẻ (P>0,05).

       

Bảng 3. Phân bố trẻ tàn tật theo nhóm tuổi

 

Nhóm tuổi

N

Tỉ lệ%

P

0 - 5 tuổi (1)

42

17,1

P1,2 >0,05

P1,3­<0,01

P2.3>0,05

6 - 10 tuổi  (2)

72

29,7

11 - 16 tuổi(3)

132

53,3

Tổng

246

100

Nhận xét:

Không có sự khác biệt về mắc tàn tật ở các nhóm 0-5 tuổi và 6-10 tuổi (P>0.05), nhưng nhóm 11 - 16 tuổi bị tàn tật là cao nhất (53,3%) và thấp nhất là nhóm 0 - 5 tuổi (17 ,1%) , có sự khác biệt về tỉ lệ tàn tật ở các nhóm 0-5 tuổi so với nhóm 11-16 tuổi (P<0,01).

      Bảng 4. Phân loại tàn tật trẻ em theo chức năng

 

Loại tàn tật

N

Tỷ lệ%

Khó khăn về vận động

118

47,9

Khó khăn về nhìn

55

22,4

Khó khăn về nghe nói

125

50,8

Khó khăn  về học

107

43,5

Động kinh

22

8,9

Nhóm khác

42

17,1

Nhận xét:

Tỉ lệ trẻ  mắc tàn tật nhóm nghe nói, nhóm vận động và nhóm khó khăn về học là cao nhất (50,8%, 47,97% và 43,5%) trong tất cả các nhóm tàn tật; tỉ lệ trẻ tàn tật động kinh là (8,9%)

 
Bảng 5. Trình độ văn hoá của trẻ tàn tật theo nhóm tuổi

 

hóm tuổi

Học vấn

0 - 5

6 - 10

11 - 16

Chung

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

N

Tỉ lệ %

Chưa đi học

42

100

16

21,9

 

 

58

22,9

Mù chữ

 

 

20

27,4

60

45,8

80

32,5

Chưa TN tiểu học

 

 

35

47,9

11

8,4

46

19,1

Tốt nghiệp tiểu học

 

 

1

1,4

8

6,1

9

3,7

Chưa TN trung học CS

 

 

 

 

35

26,0

35

14,2

Tốt nghiệp trung học CS

 

 

 

 

18

13,7

18

7,3

Tổng

42

100

72

100

132

100

246

100

Nhận xét:

-          Tỉ lệ trẻ  mù chữ  tập trung vào 2 nhóm trẻ là (32,5%), nhưng nhóm tuổi 11 - 16 chiếm tỉ lệ (45,8%) cao hơn nhóm trẻ 6 - 10 tuổi (27,4%)

-          Tỉ lệ trẻ chưa được đi học ở nhóm  6 - 10 tuổi chiếm tỉ lệ cao (21,9%)

 
Bảng 6. So sánh trình độ văn hoá giữa 2 nhóm trẻ tàn tật và không tàn tật

 

ọc vấn

 

Tàn tật (1)

Không tàn tật (2)

P

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

Chưa đi học

57

23,2

132

19,7

<0,01

Mù chữ

80

32,5

6

            0,9

Chưa TN tiểu học

47

19,1

202

30,2

Tốt nghiệp tiểu học

9

3,7

70

10,5

Chưa TN THCS

35

14,2

184

27,5

Tốt nghiệp  THCS

18

7,3

75

11,2

Tổng số

246

100

669

100

Nhận xét:

-          Có sự khác biệt về trình độ học vấn giữa 2 nhóm trẻ tàn tật và nhóm trẻ không tàn tật  (với p<0,01)

-          Đối với trẻ tàn tật tỉ lệ mù chữ cao chiếm (32,7%) so với tỉ lệ mù chữ ở nhóm không tàn tật chiếm tỉ lệ (0.9%)

       
Bảng 7. Một số yếu tố gia đình liên quan đến tàn tật

 

Gia đình

Tàn tật

Không tàn tật

Chung

P

OR

CI95%

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

Gia đình có bố (ông) tham gia chiến trường

61

24,8

105

15,7

166

18,1

<0,01

1,77

1,24-2,53

không

185

75,2

564

84,3

749

81,9

Gia đình có người tàn tật

45

18,3

46

6,9

91

9,9

<0,01

3,03

 

1,92-4,82

không

201

81,7

623

93,1

824

90,1

Nhận xét:

- Gia đình có người tham gia chiến trường có nguy cơ sinh trẻ tàn tật cao hơn (24,8%) so với không tàn tật (18,1%), có sự khác biệt về gia đình ở 2 nhóm trẻ P<0,01

- Gia đình có người tàn tật trong nhóm trẻ tàn tật cao hơn nhóm không tàn tật, có sự khác biệt giữa 2 nhóm trẻ P<0.01

 

Bảng 8. So sánh tuổi của mẹ khi mang thai giữa 2 nhóm trẻ

 

Tuổi mẹ

Tàn tật

Không tàn tật

Chung

P

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

 

<18 tuổi

3

1,20

34

5,10

37

4,00

P1,2<0,05

P1,3<0,05 P2.3<0,05

 

18-<35 tuổi

227

93,20

615

91,90

842

92,00

>35 tuổi

16

6,50

20

3,00

36

3,90

Tổng

246

100

669

100

915

100

Nhận xét:

- Nhóm trẻ tàn tật ở các bà mẹ khi sinh con tuổi >35 tỉ lệ cao hơn so với nhóm các bà mẹ sinh con trong độ tuổi 18 - <35 (P<0,05).

 

Bảng 9. Một số yếu tố về mắc bệnh và sử dụng thuốc của người mẹ

khi có thai liên quan đến tàn tật

 

Yếu tố

Tàn tật

Không tàn tật

Chung

P

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

N

Tỉ lệ%

Mẹ ốm

khi có thai (1)

89

36,2

178

26,6

267

29,2

<0,01

không

157

63,8

491

73,4

648

70,8

Mẹ dùng thuốc khi có thai (2)

37

15,7

78

11,7

115

12,6

>0,05

Không

209

84,9

591

88,3

800

87,4

Nhận xét:

-          Mẹ ốm trong thời kỳ có thai có nguy cơ sinh trẻ tàn tật cao hơn (36,2%) so với (26,6%) ở nhóm trẻ không tàn tật, như vậy có sự khác biệt giữa 2 nhóm trẻ P<0,01

-          Chưa thấy có sự liên quan giữa 2 nhóm trẻ khi có thai mẹ có dùng thuốc P>0,05

 


IV. Bàn luận

- Qua kết quả điều tra tỉ lệ trẻ tàn tật so với tổng số trẻ trong diện điều tra là 1,28%, kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thanh là 2,23% [5], Bùi Thị Thao là 1,9% [6] và của Nguyễn Thị Kim Oanh là 1,9% [4]. Điều này cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu có tỉ lệ tàn tật từ 1,04% - 10,05% [6].

- Tỉ lệ trẻ tàn tật là nam cao hơn (60,2%) so với nữ (39,8%), kết quả này của chúng tôi khác hơn so với kết quả của Trần Thị Hồng Thanh (Nam 56,08%, Nữ 43,33%) [5], nhưng  cũng có sự giống nhau về tỉ lệ tàn tật ở nhóm trẻ nam cao hơn ở nữ 1,51 lần (148/98) Và tương đương với nghiên cứu của Đặng Phương Kiệt - Đinh Quang Minh (nam/nữ là 1,6 lần) [2], không có sự khác biệt tàn tật và giới giữa các xã  (P>0,05)

- Tỉ lệ trẻ mắc 1 loại tàn tật cao nhất ở cả nam và nữ (nam 52,0%, nữ 51,0%) so với mắc 2 loại tàn tật (nam 20,4%, nữ 19,3%) và 3 loại (nam 27,0%, nữ 29,6%) nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thanh (52,4%)[5], nhưng không có sự khác biệt giữa giới tính và số loại tàn tật p>0,05.

Có sự khác biệt về tỉ lệ tàn tật ở nhóm 0-5 tuổi so với nhóm 11-16 tuổi (P<0.05). Bảng 3  cho thấy tỉ lệ trẻ tàn tật tăng dần theo nhóm tuổi, thấp nhất là nhóm tuổi 0 - 5 chiếm tỉ lệ 17,1% tiếp theo là nhóm tuổi 6-10 chiếm 29,4% và cao nhất là nhóm 11 - 16 tuổi ở cả nam và nữ  (53,3%). Theo chúng tôi trẻ tàn tật có xu hướng tăng dần ở nhóm trẻ lớn là vì nguyên nhân gây ra tàn tật có thể là các bệnh truyền nhiễm, hoặc tai nạn trong sinh hoạt để lại di chứng trở thành tàn tật, khi xem xét tháp dân số (1989) thấy nhóm trẻ lớn tuổi cao hơn nhóm nhỏ tuổi (0 -5 tuổi là 11,60%, 6 - 10 tuổi là 11,96%  và 11 - 16 tuổi là 14,31%).

- Phân bố tàn tật theo chức năng: Nhóm hành vi xa lạ rất khó phát hiện và nhóm mất cảm giác không gặp ở trẻ em nên chúng tôi xếp vào với nhóm khác để thuận tiện cho việc phân loại, Kết qủa bảng 4 cho thấy tỉ lệ trẻ mắc tàn tật nhóm nghe nói là cao nhất (50,8%), tiếp đó là  nhóm có khó khăn về vận động (47,97%) và nhóm khó khăn về học (43,5%), nhóm động kinh tỉ lệ 8,9%, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Oanh thì nhóm  có khó khăn về học có tỉ lệ cao nhất (28,9%) và thấp nhất là nhóm khó khăn về nghe, nói (10,6%)[4]. Trong quá trình khám phân loại phát hiện thấy một trẻ có thể mắc cùng một lúc nhiều nhóm tàn tật khác nhau.

- Về học vấn đối với trẻ tàn tật tỉ lệ trẻ  mù chữ  tập trung vào 2 nhóm trẻ là (32,5%), nhưng nhóm tuổi 11 - 16 chiếm tỉ lệ  cao hơn (45,8%) so với nhóm trẻ 6 - 11 tuổi (27,4%), Từ kết quả này chúng ta thấy trẻ tàn tật không được đi học ở nhóm 6 - 10 tuổi chiếm tỉ lệ (21,9%), thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thanh (33,84%)[5], Theo chúng tôi sở dĩ trẻ em tàn tật không được đi học và mù chữ cao có thể do nhận thức, hoặc sự quan tâm của gia đình có trẻ tàn tật chưa thực sự bình đẳng như  trẻ khác không tàn tật hoặc do bản thân trẻ tàn tật không thể đi học được.

- So sánh về trình độ văn hoá giữa 2 nhóm trẻ, có sự khác biệt về trình độ văn hoá giữa 2 nhóm trẻ tàn tật và nhóm trẻ không tàn tật (p<0,01). Đối với trẻ tàn tật tỉ lệ mù chữ cao (32,5%) so với tỉ lệ mù chữ ở nhóm không tàn tật  (0,9%). Tỉ lệ trẻ không tàn tật có học vấn ở các cấp học như đang học tiểu học (30,3%) cao hơn  so với nhóm trẻ tàn tật (19,2%) và đang học trung học cơ sở (25,2%) cao hơn so với nhóm trẻ tàn tật là (14,3%). Tỉ lệ trẻ tàn tật mù chữ và đang học trung học cơ sở cao hơn nghiên cứu của Bùi Thị Thao (22,2%, 20,8%)[6], tỉ lệ trẻ tàn tật ở tất cả các nhóm bị mù chữ khá cao (32,7%) nhưng chúng ta cũng thấy rằng không phải trẻ tàn tật nào trong nhóm có khó khăn về học (43,5%) cũng bị mù chữ.

- Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến gia đình có người đi bộ đội (chủ yếu là người ông và bố của trẻ) tham gia chiến trường trước năm 1975 nhưng chưa phân biệt được những người này có bị ảnh hưởng chất độc hoá học hay không, nhưng qua bảng 4 thấy những gia đình này có nguy cơ sinh trẻ tàn tật cao hơn (24,8%) so với không tàn tật (15,7%), gia đình có người tham gia chiến trường có nguy cơ sinh trẻ tàn tật gấp 1,7 lần so với gia đình không có ai, sự khác biệt về yếu tố gia đình ở 2 nhóm trẻ có ý nghĩa (P<0,01); kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Đặng Phương Kiệt - Đinh Quang Minh trong 97 trường hợp trẻ em khuyết tật thì có 48 là người cha đã sống tại các vùng có rải chất độc hoá học chiếm gần 50%[2]. Trong gia đình có người tàn tật ở nhóm trẻ tàn tật (18,3%) cao hơn nhóm không tàn tật (9,9%). Kết quả này phù hợp vì theo chúng tôi một gia đình có thể nhiều con bị tàn tật hoặc những gia đình này có các thế hệ (ông, bà, bố, mẹ) bị tàn tật, có sự  khác biệt giữa 2 nhóm trẻ P<0,01.

- Tuổi của mẹ khi mang thai cũng có vai trò nhất định sinh ra con tàn tật, tuổi mẹ >35 sinh trẻ tàn tật (6,50%) cao hơn so với không tàn tật (3,0%), có sự khác biệt  tuổi của mẹ khi mang thai >35 tuổi  so với mẹ  mang thai trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 - <35 (P<0,05).Trong thời kỳ có thai mẹ ốm có nguy cơ sinh trẻ tàn tật cao hơn (36,2%) so với (26,6%), hay có thể nói mẹ ốm trong thời kỳ có thai có thể sinh ra trẻ tàn tật cao gấp 1,56 lần (P<0,01).

- Chưa có sự liên quan khi có thai mẹ có dùng thuốc ở 2 nhóm tàn tật và không tàn tật (P>0,05), kết quả này là phù hợp vì trong khi phỏng vấn thấy các bà mẹ chỉ cho biết có dùng thuốc nhưng không biết dùng thuốc gì do vậy mà không biết cụ thể thuốc có hại cho thai nhi hay không.

Nghiên cứu thực trạng về trẻ em tàn tật tại cộng đồng cần được tiếp tục, từ đó tìm ra nguyên nhân, những nguy cơ tiềm tàng để đề ra các giải pháp chiến lược nhằm mục đích dự phòng, phục hồi chức năng cho trẻ em  khuyết tật tại cộng đồng.


* Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên