NHỮNG BÀI HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ DÂN SỐ - PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI QUA THỰC TẾ KẾT QUẢ CÔNG TÁC DÂN SỐ VIỆT NAM
TS. NGUYỄN QUỐC ANH*
 

*Trong quá trình công tác, là một cán bộ và cũng là một người học trò, tôi học được rất nhiều từ cách xử lý số liệu, làm cho những con số biết nói từ GS. Mai Kỷ, mặc dù tôi cũng đã có gần 20 năm công tác tại Tổng cục Thống kê trước khi chuyển về công tác tại Uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ vào năm 1990. Hiện nay GS. Mai Kỷ tuổi đã cao, do tái phát tai biến mạch máu não, không đi đâu được, nhưng thỉnh thoảng có dịp vẫn gọi tôi đến để cùng xem xét những số liệu kết quả về DS-KHHGĐ cũng như mối liên quan đến phát triển Kinh tế-Xã hội của đất nước. Nhân dịp Thủ tướng Chính phủ ngày 6/6/2007 ban hành Chỉ thị về việc tăng cường thực hiện chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính Trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ và kỷ niệm ngày dân số thế giới, xin giới thiệu một số phân tích số liệu kết quả công tác DS-KHHGĐ trong thời gian qua.
1. Tổng điều tra dân số 1989 công bố tỷ lệ phát triển dân số là 2,2%, nhưng sau đó Tổng cục Thống kê công bố tỷ lệ phát triển dân số nhích lên: Năm 1990 là 2,25%, năm 1991 là 2,33%, năm 1992 là 2,4%. Dự báo dân số của Liên Hợp quốc công bố năm 1990 cũng cho rằng tỷ lệ phát triển dân số Việt Nam khoảng 2,4%-2,5%/năm và dự báo dân số Việt Nam năm 2020 là 140 triệu và tiếp tục tăng mạnh: năm 2025 là 158 triệu người và chưa biết bao giờ mới có điểm dừng! Nếu duy trì được kết quả tốt như hiện nay, dự báo của LHQ năm 2007, dân số Việt Nam sẽ là 106,4 triệu vào năm 2025, với cảnh báo đề phòng nguy cơ tăng trở lại.
2. Số liệu dân số Việt Nam từ năm 1921 đến 1990 cho thấy, dân số 1960 gấp đôi dân số 1921 (khoảng cách 39 năm), nhưng sau đó dân số năm 1970 gấp đôi dân số 1940 (khoảng cách còn 30 năm), rồi dân số 1985 gấp đôi dân số 1960 (tức là rút xuống 25 năm). Đầu những năm 1990 dân số Việt Nam được xếp đứng thứ 12 trên thế giới (hiện nay do kết quả của công tác DS-KHHGĐ đã tụt xuống thứ 13, có lúc đã xuống thứ 14), Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, theo số liệu dân số thế giới công bố đầu năm 2007, mật độ dân số Việt Nam năm 2006 là 657 người, mật độ dân số Trung Quốc là 355 nguời trên một dặm vuông), tức là xét về mật độ thì dân số Việt Nam cao gần gấp đôi so với Trung Quốc.
3. So sánh với hai nước có dân số gần như ta vào năm 1960 (Hàn Quốc là 25 triệu người, Thái Lan là 26 triệu, Việt Nam là 30 triệu). Nhưng do Hàn Quốc bắt đầu làm công tác dân số năm 1962 và thành công vào năm 1985 nên đến năm 1990 chỉ có 43 triệu người, và sẽ ổn định qui mô dân số ở mức 50 triệu. Thái Lan bắt đầu làm công tác dân số năm 1972 và thành công vào năm 1992 nên dân số Thái Lan năm 1990 chỉ là 56 triệu người và dự kiến ổn định ở mức 73 triệu. Cần nhắc lại là Việt Nam bắt đầu làm công tác DS-KHHGĐ từ năm 1961 và kết quả đạt được vừa qua mới cho phép ước tính ổn định ở mức 120 triệu, nhưng chỉ cần tỉ lệ sinh tăng trở lại trong 4-5 năm thì mức này phải cộng thêm 10 triệu nữa.
4. Năm 1992, trong Nghị quyết TW 4 khóa VII, Việt Nam đề ra mục tiêu đạt mức sinh thay thế vào năm 2015 và đồng hồ dân số (Population monitor) của Liên Hợp quốc đã dự báo 3 phương án: 1) Nếu đạt được như mục tiêu này thì dân số Việt Nam năm 2035 là 131 triệu người. 2) Nếu đạt mục tiêu sớm hơn 10 năm thì dân số sẽ là 116 triệu. 3) Nếu chậm hơn 10 năm thì dân số sẽ là 145 triệu người. Căn cứ vào điều này, công tác DS-KHHGĐ lúc đó quyết tâm thực hiện bằng được đạt mức sinh thay thế vào năm 2005 để khống chế dân số Việt Nam ở mức 115-120 triệu người, nhưng tiếc rằng năm 2005 chúng ta đã không đạt được và mục tiêu đạt vào năm 2010 cũng đang có nguy cơ khó thực hiện.
5. Tài liệu của Quĩ tiền tệ thế giới (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) nêu lên 3 đặc điểm đầu tiên của các nước Đông Á và Đông Nam Á có nền kinh tế phát triển nhanh là: 1) Tăng trưởng sản lượng và năng suất ngày càng nhanh trong nông nghiệp; 2) Tăng nhanh tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp; 3) Tỷ lệ sinh đẻ giảm sớm và mạnh.
Tài liệu của LHQ nói về các bài học tổng quát về thành công trong công tác DS-KHHGĐ nêu lên 3 bài học đầu tiên là: 1) Tăng cường sự cam kết chính trị của Chính phủ; 2) Phải có chiến lược DS-KHHGĐ và chương trình quốc gia; 3) Tăng cường đầu tư nguồn lực.
6. Về tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ, Liên Hợp quốc tổng kết từ 86 nước châu Phi, châu Á, châu đại dương, Mỹ la tinh và vùng Caribe là: 70% dưới hình thức Uỷ Ban liên bộ; 5% là Bộ Dân số; 13% để trong các Bộ phát triển xã hội/Bảo trợ xã hội/Nguồn nhân lực/Y tế/Giáo dục; 10% để trong Bộ Kế hoạch/Tài chính/Phát triển và 2% thuộc các cơ quan khác.
Ở Việt Nam công tác dân số từ 1961 được tổ chức dưới hình thức Ban chỉ đạo hướng dẫn sinh đẻ kế hoạch do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng ban với cơ quan chuyên trách đặt trong Bộ Y tế. Từ 1970 thành lập Uỷ ban bảo vệ bà mẹ trẻ em do bà Đinh Thị Cẩn làm chủ nhiệm. Năm 1974 do yêu cầu đơn giản tổ chức, Uỷ ban này giải thể và bộ phận thường trực đưa lại về Bộ Y Tế, lúc đầu do Phó chủ tịch HĐBT Võ Nguyên Giáp, sau này là PCT thường trực HĐBT Võ Văn Kiệt làm chủ tịch. Năm 1991 tách ra thành cơ quan độc lập và vẫn do PCT Võ Văn Kiệt làm chủ tịch.
 7. Về tăng cường nguồn lực cho công tác DS-KHHGĐ của Trung Quốc. Quyết định liên tịch của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc về tăng cường toàn diện công tác DS-KHHGĐ ban hành ngày 17/12/2006 (quyết định này dựa trên kết quả nghiên cứu trong hơn 2 năm, từ 2/2004 đến 4/2006 của hơn 300 chuyên gia và học giả và gồm 9 chương) đã nêu: "...đưa nguồn lực cho công tác dân số tính theo đầu người là 30 nhân dân tệ (gần 4 USD), trong đó 22 tệ do ngân sách TW, 8 tệ từ ngân sách địa phương (gấp hai lần mức kiến nghị của hội nghị dân số quốc tế tại Cai Rô 1994). Để so sánh, kinh phí chi cho công tác DS-KHHGĐ Việt Nam, bao gồm cả viện trợ là khoảng 0,4-0,5 USD/ người; Vào những năm 1993-1997, khi chương trình dân số Việt Nam đã đạt được những kết quả tiền đề rất tốt thì mức đầu tư cũng chỉ mới khoảng 0,2-0,3 USD/người. Qua bốn lần cải cách hành chính, hiện nay Trung Quốc chỉ có 23 bộ và cơ quan ngang bộ, trong đó có Uỷ ban nhà nước Trung Quốc về DS-KHHGĐ, giải quyết toàn diện vấn đề dân số mà không chỉ giới hạn về KHHGĐ. Sở dĩ các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước Trung Quốc nhận thức được và quyết tâm thực hiện chương trình DS-KHHGĐ vì trong thực tế, Trung Quốc đã có hai bài học phải trả giá bằng nhiều chục năm tụt hậu. Năm 1961, tổng tỷ suất sinh của Trung Quốc đã giảm xuống mức 3,287 con, nhưng do biến động xã hội đã tăng lên và chỉ khôi phục trở lại vào năm 1976 với mức 3,235 con (mất 15 năm). Lần thứ hai là năm 1980 đã đạt tổng tỷ suất sinh là 2,31 con, nhưng lại tăng trở lại và chỉ khôi phục lại đúng mức 2,31 con vào năm 1990 (mất 10 năm).

Tốc độ phát triển kinh tế được thể hiện bằng một phân số, mà mẫu số là dân số, không thể chỉ lo phát triển tử số mà quên việc kìm hãm sự phát triển của mẫu số. Số liệu thống kê về lương thực năm 1990 tăng gần gấp 4 lần so với năm 1930, nhưng dân số trong thời gian đó cũng tăng gần gấp 4 lần (30 năm tăng một lần) nên bình quân lương thực đầu người chỉ tăng thêm 1 kg sau 60 năm phấn đấu. Năm 1994, trong bài báo của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "Nếu hiện nay dân số nước ta khoảng 50 triệu người hay ít hơn nữa (lúc đó dân số nước ta là 70 triệu) thì biết bao vấn đề trọng đại về kinh tế, văn hoá và xã hội có thể giải quyết thuận lợi hơn nhiều". Hiện nay dân số Việt Nam đã trên 84 triệu người. Bằng cách nào để ổn định qui mô dân số ở mức hợp lý làm cơ sở cho việc phát triển Kinh tế-Xã hội là nhiệm vụ quan trọng của chúng ta trong thời gian tới. Nếu không làm tốt được việc này, thì như trong bài viết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã thẳng thắn nhận thiếu sót: “...chúng ta đã trả giá rất đắt vì sự sai lầm nghiêm trọng rất đáng chê trách này...". Trong Nghị quyết 47 NQ/TW của Bộ Chính Trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2005, đã tổng kết những bài học kinh nghiệm như "...chưa nhận thức được đầy đủ tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này..."; "...buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo thiếu kiên định trong tổ chức thực hiện chính sách DS-KHHGĐ...". Như vậy, hiện nay chương trình dân số đang có những kết qủa tốt, nhưng cũng nhiều thách thức cam go, chúng ta cần quyết tâm thực hiện tốt công tác này để góp phần thực hiện tốt các mục tiêu phát triển Kinh tế-Xã hội đề ra trong Nghị Quyết đại hội Đảng X.

 

* Giám đốc Trung tâm Thông tin