DỰ ÁN SCALE: XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
ĐỂ CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM”1
PENELOPE LANE*
 

[1]*Marie Stopes International Việt nam (MSIVN) và Trung tâm Sức khỏe sinh sản Cộng đồng Việt Nam (VNCRH) hỗ trợ về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam
 Marie Stopes International Việt Nam (MSIVN) và Trung tâm Sức khỏe sinh sản Cộng đồng Việt Nam (VNCRH) vừa khai trương dự án SCALE để mở rộng mạng lưới các phòng khám mang tên Marie Stopes và hoạt động lưu động, xây dựng và thử nghiệm một thương hiệu xã hội hoá, bước đầu với 36 cơ sở y tế tư nhân và sau đó là nhân diện tại 500 cơ sở trên toàn quốc.
MSIVN là một trong những tổ chức phi chính phủ đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc SKSS tại Việt nam từ năm 1989, chuyên cung cấp các dịch vụ SKSS và KHHGĐ chất lượng cao.
Đồng thời với việc hỗ trợ nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chất lượng tại hệ thống y tế nhà nước của Việt nam, MSIVN còn hợp tác với VNCRH để phát triển một hệ thống các phòng khám của mình. Từ 1996 đến 2005, hệ thống các phòng khám chăm sóc sức khỏe sinh sản mà MSIVN hợp tác thực hiện cùng với các đối tác tại địa phương này đã cung cấp dịch vụ cho hơn 500,000 phụ nữ, nam giới và gia đình của họ tại Việt Nam.
Mục tiêu dài hạn của tổ chức là nâng cao tính sẵn có và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS nói riêng cho người dân Việt Nam, đồng thời xây dựng một mô hình phát triển bền vững về tài chính để các phòng khám vẫn có thể tiếp tục phục vụ được cộng đồng sau khi hết nguồn tài trợ.
Dự án SCALE được triển khai là để thực hiện những mục tiêu trên. Dự án này do MSI Vương quốc Anh tài trợ, Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á là cơ quan chủ quản, và MSIVN cùng VNCRH là hai cơ quan đồng thực hiện dự án. Dự án SCALE sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ thông qua việc mở rộng hệ thống các phòng khám tĩnh tại (trong đó có một tổng đài tư vấn), phát triển mô hình nhượng quyền xã hội cho khối y tế tư nhân và xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ thông qua hỗ trợ kỹ thuật cho các phòng khám mang tên Marie Stopes cũng như hệ thống xã hội hoá.
Tổng quan về dự án:
Cơ quan chủ quản: Hội Nghiên cứu Đông Nam Á
Nhà tài trợ: Marie Stopes International Vương quốc Anh
Cơ quan đồng thực hiện dự án: Trung tâm Sức khoẻ sinh sản Cộng đồng và Marie Stopes International Việt Nam
Cơ quan điều hành và hỗ trợ kỹ thuật: Marie Stopes International Australia
Ngân sách: 4.610.148,00 đô - la Mỹ
Các đối tác phối hợp của dự án: Bộ Y tế, các Sở Y tế Hà Nội, Lào Cai, Quảng Ninh, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Cần Thơ, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, An Giang, và các Trung tâm sức khoẻ sinh sản tại các vùng thực hiện dự án
Địa bàn dự án: Hà nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Cần Thơ, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, An Giang
Thời gian triển khai dự án: 5 năm (2007 – 2011)
Các mục tiêu của dự án:
Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ SKSS và KHHGĐ thông qua việc phát triển thế mạnh của các phòng khám hợp tác MSIVN/VNCRH và mô hình xã hội hoá cho khối y tế tư nhân.
Nâng cao nhận thức của cộng đồng tại địa bàn dự án về các dịch vụ SKSS và tiếp cận các dịch vụ SKSS chất lượng cao
Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ SKSS và KHHGĐ chất lượng cao, đáng tin cậy, vừa khả năng chi trả cho cộng đồng tại địa bàn dự án
Góp phần đa dạng hóa các dịch vụ KHHGĐ và các biện pháp tránh thai cho cộng đồng tại địa bàn dự án
Phân tích nhu cầu của dự án:
Theo báo cáo của UNFPA và VCPFP năm 2007, Việt nam là một quốc gia đầy tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Tỷ lệ thanh niên và vị thành niên rất cao, chiếm 1/3 trong tổng số 84 triệu dân*. Quy mô dân số sẽ còn tiếp tục tăng từ 84,15 triệu dân năm 2006 lên đến 93,7 triệu dân vào năm 2015; số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15 – 49) cũng sẽ tăng tương ứng từ 24 lên đến 26 triệu người. Những chỉ số này cho thấy tầm quan trọng của việc giảm tỷ lệ sinh và tăng các biện pháp KHHGĐ để giãn khoảng cách sinh. Rõ ràng là nhu cầu về các biện pháp tránh thai sẽ ngày càng cao.
Việc thiếu các biện pháp tránh thai là một nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nạo phá thai cao ở Việt nam. Một lý do khác nữa là sự hiểu biết của dân chúng (đặc biệt là vị thành niên) về SKSS và các biện pháp tránh thai còn rất hạn chế. Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ là một trong 6 lĩnh vực chính trong “Chương trình hành động giai đoạn 2001 – 2005” của “Chiến lược quốc gia vì tiến bộ của phụ nữ 2001 – 2010”* do Chính phủ đề ra. Vì vậy, giám sát tốt các hướng dẫn chuẩn cho khối y tế tư nhân sẽ góp phần cải thiện các dịch vụ y tế cộng đồng và qua đó góp phần đạt được Chiến lược Quốc gia do chính phủ đề ra.
Các hợp phần của dự án (3 phần):
1. Mở rộng mạng lưới phòng khám của MSIVN/VNCRH và một tổng đài tư vấn
Mở thêm 08 trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình theo mô hình phát triển bền vững mang tên Marie Stopes bao gồm các trung tâm và đội lưu động gắn với mỗi trung tâm.
Thành lập, củng cố và phát triển một hệ thống các phòng khám theo mô hình này trên toàn quốc nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ SKSS và KHHGĐ chất lượng cao và phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng.
Đội lưu động sẽ được trang bị máy móc, thiết bị để cùng hợp tác với đối tác địa phương nhằm mang dịch vụ SKSS và KHHGĐ đến với các vùng nông thôn, vùng núi nơi có những người dân có nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng.
Tổng đài tư vấn cung cấp thông tin và tư vấn về SKSS và KHHGĐ cho mọi khách hàng gọi đến. 
2. Triển khai mô hình xã hội hoá để xây dựng năng lực và nâng cao tiêu chuẩn cho các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS và KHHGĐ một cách hiệu quả tại Việt Nam
Mô hình xã hội hoá đang được MSI triển khai trên toàn thế giới. Là một trong những chương trình tiên phong áp dụng mô hình này tại Việt Nam, MSIVN sẽ áp dụng các nguyên tắc cơ bản của mô hình xã hội hoá để đạt được nhiều nhất các mục tiêu xã hội. Áp dụng mô hình thành công trong kinh doanh vào mục đích xã hội sẽ góp phần tạo ra nhiều cơ hội để phát triển các dự án xã hội tương tự như dự án này. Đây chính là cách thức tốt nhất để tạo ra nguồn tài chính bền vững nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Xã hội hoá tạo ra một “mô hình kinh doanh” chất lượng cao, coi khách hàng là trọng tâm và cho phép các cơ sở nhỏ được phép sử dụng thương hiệu của các cơ sở lớn hơn.
- Bên nhượng quyền cung cấp cho bên được nhượng quyền những thông tin quan trọng, các tài liệu truyền thông, các hướng dẫn về quản lý, đánh giá và các quy trình.
- Bên được nhượng quyền phải đáp ứng được những tiêu chuẩn chất lượng nhất định, phải tuân thủ mô hình và trả phí hỗ trợ cho bên nhượng quyền.
- Bên được nhượng quyền đồng ý duy trì các tiêu chuẩn chất lượng trong thỏa thuận nhượng quyền.
- Bên được nhượng quyền đồng ý sử dụng các tài liệu liên quan đến thương hiệu và thực hiện đúng kế hoạch truyền thông.
- Bên được nhượng quyền đồng ý duy trì nguyên tắc coi khách hàng là trọng tâm, thường xuyên thu thập thông tin của nhóm đối tượng đích
- Bên được nhượng quyền đồng ý đóng góp vào ngân quỹ của bên nhượng quyền (tùy theo tình hình cụ thể).
- Bên được nhượng quyền chấp nhận từ bỏ thương hiệu nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn nhượng quyền.
Mục tiêu của MSIVN và VNCRH là trong vòng 5 năm tới sẽ xây dựng được một mạng lưới gồm 500 cơ sở y tế tư nhân tại Việt nam để tăng khả năng cung cấp dịch vụ cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS chất lượng cao cho người dân.
Dự án nhượng quyền xã hội sẽ kéo dài 5 năm, từ 2007 đến 2011; bước đầu sẽ là giai đoạn thử nghiệm, sau đó sẽ nhân diện mô hình trên toàn quốc để đạt được mục tiêu 500 cơ sở được nhượng quyền. Tổng giá trị của dự án có thể lên tới 9 triệu đô la trong 5 năm.
3. Xây dựng năng lực thông qua việc hỗ trợ các thành viên và các cơ sở được nhượng quyền về đào tạo, trang thiết bị, các quy trình hoạt động và kỹ thuật
MSIVN và VNCRH sẽ cùng hợp tác lựa chọn các cơ sở y tế tư nhân phù hợp để đưa vào mạng lưới nhượng quyền. Bước tiếp theo sẽ là phát triển thương hiệu nhượng quyền xã hội, các chuẩn dịch vụ, triển khai chương trình đào tạo tổng thể cho các cơ sở được nhượng quyền trong các lĩnh vực tiếp thị dịch vụ, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, chăm sóc khách hàng, các kỹ năng hoạt động và marketing.
MSIVN và VNCRH cũng sẽ tiến hành một chương trình quảng cáo trên quy mô toàn quốc để quảng bá cho thương hiệu và thực hiện việc giám sát hỗ trợ thường xuyên để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn chất lượng được tuân thủ chặt chẽ. Sự hỗ trợ này sẽ giúp làm tăng lượng khách hàng cho các cơ sở được nhận quyền, qua đó tạo đà cho sự phát triển bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ chất lượng cao cho người dân.
Các bên được hưởng lợi của dự án:
- Các cơ sở được nhượng quyền được đào tạo về các dịch vụ SKSS, được tiếp cận và cung cấp các dịch vụ SKSS mới nhất như phá thai bằng thuốc và dụng cụ tử cung Gynefix;

MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA
 

Nguồn tài trợ
MSIVN + VNCRH
Đào tạo, hỗ trợ và khuyến khích các cơ sở y tế tư nhân (được nhượng quyền)
Quảng cáo, truyền thông
Cải thiện chất lượng DV
Nhu cầu sử dụng dịch vụ
 
Khuyến khích khách hàng sử dụng DV
Các DV do bên được nhượng quyền cung cấp: chất lượng tốt hơn và tăng lượng khách hàng
Các lợi ích xã hội
 
- Chất lượng dịch vụ kém
- Ít người sử dụng dịch vụ
- Kỹ năng cung cấp dịch vụ yếu
- Giảm tỷ lệ chết thai phụ
- Giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn
- Giảm tai biến do phá thai không an toàn
 

 
 
- Cộng đồng được giáo dục truyền thông, nâng cao hiểu biết về SKSS, được sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKSS tại các phòng khám hoặc các cơ sở y tế nhận quyền;
- Những người gọi đến tổng đài được cung cấp thông tin và tư vấn;
- Các cán bộ y tế tham gia dự án và tham gia kiểm tra giám sát các cơ sở sẽ được đào tạo;
- Các thành viên của VNCRH và MSIVN được đào tạo;
Dự án là một cơ hội để MSIVN và Trung tâm Sức khỏe sinh sản cộng đồng hợp tác với khu vực y tế tư nhân trên một quy mô lớn tại Việt Nam. Dự án sẽ mang lại kết quả là nâng cao chất lượng dịch vụ và cơ hội tiếp cận với dịch vụ chất lượng cao trong lĩnh vực chăm sóc SKSS cho người dân Việt Nam.
Quách Thị Mai dịch từ nguyên bản tiếng Anh
 

[1] Gọi tắt là Dự án “SCALE
* Penelope Lane: Giám đốc dự án SCALE của MSIVN