ĐIỀU TRA BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ, NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ KHHGĐ 1/4/2006
NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU
Kết quả Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và KHHGĐ 1/4/2006 đã được giới thiệu trong số1(70)/2007 Tạp chí Dân số & Phát triển. Chúng tôi xin bổ sung một số số liệu của cuộc điều tra này.
 

Qui mô hộ
Kết quả của cuộc điều tra cho thấy qui mô hộ trung bình là 4,1 người, của thành thị là 3,9 người và của nông thôn là 4,1 người. Kết quả của điều tra biến động dân số một số năm vừa qua cho thấy qui mô hộ của dân số Việt Nam liên tục giảm. Cụ thể, con số đó của năm 2001, 2003, 2005 và 2006 tương ứng là 4,5 người, 4,4 người, 4,3 người và 4,1 người. Số người bình quân 1 hộ thấp nhất trong cả nước là Đồng bằng sông Hồng (3,7 người), cao nhất là Tây Bắc (4,6 người), tiếp theo là Tây Nguyên (4,5 người).
Chỉ số già hoá
Chỉ số già hoá là một trong những chỉ tiêu quan trọng biểu thị xu hướng lão hoá của dân số. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa dân số từ 65 tuổi trở lên và dân số dưới 15 tuổi. Bảng 1 cho thấy chỉ số già hoá của Việt Nam qua các năm. Rõ ràng xu hướng già hoá dân số ở nước ta diễn ra khá nhanh trong gần 2 thập kỷ qua.
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu (Singulate Mean Age at Marriage - SMAM) – Bảng 2

 
Bảng 1: Chỉ số già hoá của Việt Nam qua các năm
 
1989
1999
2006
12,0%
17,4%
26,8%

Bảng 2: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu năm 2006
 
SMAM
Chênh lệch SMAM (Nam-Nữ)
Nam
Nữ
Toàn quốc
Thành thị
Nông thôn
26,6
28,4
25,9
23,2
24,7
22,6
3,4
3,7
3,3

Bảng 3: Tỷ suất kết hôn thô và tỷ suất ly hôn thô, Việt Nam (‰)
Năm
Tỷ suất
Kết hôn thô
Tỷ suất
Ly hôn thô
2003
2004
2005
6,5
6,3
5,7
0,2
0,2
0,2
 
 
 

Tỷ suất kết hôn và tỷ suất ly hôn
Tỷ suất kết hôn hay tỷ suất kết hôn thô biểu thị số đám cưới trên 1.000 dân, bao gồm cả số kết hôn lần đầu cũng như số tái hôn trong năm của một vùng địa lý-kinh tế. Tỷ suất ly hôn hay tỷ suất ly hôn thô là số vụ ly hôn trên 1.000 dân trong năm của một vùng (bảng 3).
Tỷ suất chết mẹ
Tỷ suất chết mẹ năm 2006 là 115 trên 100.000 trường hợp sinh sống.
Di cư
Tỷ suất di cư của cả nước trong 12 tháng trước cuộc điều tra 1/4/2006 là 4‰, tăng 0,6‰ so với 12 tháng trước cuộc điều tra 1/4/2005 (4‰ so với 3,4‰). Như vậy mức di cư liên tục tăng trong 3 năm qua. Điều đó phản ánh tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá ở nước ta vẫn tiếp tục tăng nhanh. Đông Nam bộ là vùng có tốc độ nhập cư thuần tăng 44% so với năm 2005 (từ 7,2‰ tăng lên 10,4‰). Bắc Trung bộ là vùng có tốc độ xuất cư thuần tăng nhanh (từ 2,4‰ tăng lên 4,4‰). Nếu Tây Nguyên là vùng xuất cư thuần trong 12 tháng trước 1/4/2005 (-0,2‰) thì trong 12 tháng trước 1/4/2006 vùng này đã trở thành vùng nhập cư thuần (1,4‰). Tây Bắc là vùng nhập cư thuần trong 12 tháng trước 1/4/2005 (0,3‰) đã trở thành vùng xuất cư thuần (-0,3‰) trong cuộc điều tra 1/4/2006.
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và KHHGĐ 1/4/2006 – Những kết quả chủ yếu.

NXB Thống kê, Hà Nội, 2007