ĐÔ THỊ HOÁ VÀ CÁC XU HƯỚNG NHÂN KHẨU HỌC
PGS.TS. HOÀNG BÁ THỊNH*


1. Xu hướng nhân khẩu học và đô thị hoá
Thế giới đã bắt đầu trải qua đô thị hoá nhanh từ đầu thế kỉ 20, đặc biệt vào các thập kỷ sau. Năm 1950, dân số đô thị chỉ chiếm gần 1/3 (29,1%) tổng dân số thế giới, số này tăng lên (49,4%) năm 2007 và (69,6%) vào năm 2050. Số lượng dân số đô thị tương ứng tăng từ 0,7 triệu người năm 1950 lên 3,3 tỉ người năm 2007 và 6,4 tỷ người năm 2050. 


Bảng 1. Xu hướng đô thị hoá toàn cầu, 1950-2050
Vùng
(*)
Dân số đô thị (triệu)
Tỷ lệ dân số đô thị (%)
1950
1975
2007
2025
2050
1950
1975
2007
2025
2050
1
737
1518
3294
4584
6398
29,1
37,3
49,4
57,2
69,6
2
427
702
916
995
1071
52,5
67,0
74,4
79,0
86,0
3
310
817
2382
3590
5327
18,0
27,0
43,8
53,2
67,0
4
32
107
373
658
1233
14,5
25,7
38,7
47,2
61,8
5
237
574
1645
2440
3486
16,8
24,0
40,8
51,1
66,2
6
281
444
528
545
557
51,2
65,7
72,2
76,2
83,8
7
69
198
448
575
683
41.4
61,1
78,3
83,5
88,7
8
110
180
275
365
402
63,9
73,8
81,3
85,7
90,2
9
8
13
24
27
31
62,0
71,5
70,5
71,9
76,4
(*) Chú thích:               
  1. Thế giới                        2. Khu vực phát triển     3. Khu vực đang phát triển
  1. Châu Phi                       5. Châu Á                             6. Châu Âu
7. Mỹ Latin và vùng Caribe   8. Bắc Mỹ;                9. Châu Đại dương
Nguồn: United Nations (2008).World Urbanization Prospects: The 2007 Revision; World Population Monitoring, 2009; Global Report on Human Settlements 2009.


Trong những năm gần đây, tỉ lệ tăng dân số đô thị của thế giới đang giảm chậm, xuống còn 1,8% một năm. Trong khi tốc độ đô thị hoá ở các nước phát triển đã đạt cao trên 50% từ hơn nửa thế kỉ trước, và các nước đang phát triển sẽ đạt được mức độ này vào năm 2019. Không kể khu vực Mỹ La tinh, mức độ đô thị hoá ở các nước đang phát triển chậm hơn so với các quốc gia đã phát triển.
Ở các nước phát triển
Quá trình đô thị hoá diễn ra thuận lợi hơn ở những khu vực đã phát triển trên thế giới. Năm 2007, khoảng 74,4% dân số sống trong các thành phố và dự báo sẽ đạt 86% vào năm 2050. Ở các quốc gia đã phát triển mức độ đô thị hoá cao, tỷ lệ tăng dân số đô thị lại thấp - tỉ lệ tăng trung bình từ năm 1975 đến 2007 là 0,8% và được dự đoán sẽ giảm xuống 0,3% từ năm 2025 đến 2050. Di cư quốc tế chiếm một phần ba sự tăng trưởng đô thị ở các nước phát triển, với trung bình mỗi năm có 2,3 triệu người di cư từ các nước nghèo đến các quốc gia phát triển. Một khía cạnh nhân khẩu học khác là sự già hoá dân số nhanh chóng, được thể hiện bằng sự tăng số dân có độ tuổi từ 60 trở lên.
Ở các nước quá độ
Giai đoạn trước những năm 1970, khối Đông Âu đã có tỷ lệ tăng trưởng đô thị, với 2/3 các thành phố đạt tỷ lệ tăng khoảng 3% một năm. Năm 2000, hầu hết các thành phố có tỉ lệ tăng dân số 0%.
Có hai yếu tố đáng chú ý về xu hướng ở các nước quá độ. Một là, sự tăng dân số “âm” ở một số thành phố. Quan sát cho thấy 75% các thành phố ở Đông Âu đã diễn ra sự giảm dân số từ năm 1990 đến 2005. Điều này là do gia tăng luồng di cư đến các nước thuộc Liên minh châu Âu, tăng tỉ lệ tử vong và giảm tỉ lệ sinh. Sự thay đổi của Liên Xô đã góp phần giảm dân số đô thị và tác động lên nhiều mặt của cuộc sống đô thị. Hai là, xu hướng diễn ra trong vài thập kỉ gần đây là sự già hoá dân số nhanh chóng, được thể hiện qua tỷ trọng tăng ở những người từ 60 tuổi trở lên.
Ở các nước đang phát triển
Năm 2007, khoảng 44% dân số của các nước đang phát triển sống trong các vùng đô thị, dự đoán con số này tăng đến 67% vào năm 2050. Từ năm 1975 đến 2007, tỉ lệ tăng trung bình dân số đô thị hàng năm là 3,1%. Con số này được dự đoán là sẽ giảm xuống 2,3% từ năm 2007 tới 2025 và còn 1,6% từ năm 2025 tới 2050. Những khu vực đang phát triển - đặc biệt là châu Phi và châu Á - đang có tốc độ đô thị hoá nhanh nhất. Điều này có thể do mức độ tăng tự nhiên cao và tăng di dân từ nông thôn ra đô thị. Xu hướng nhân khẩu học quan trọng ở những nước đang phát triển là dân số trẻ (15-29 tuổi) chiếm tỉ lệ cao. Tới năm 2030, 60% số dân sống ở đô thị ở các nước đang phát triển là ở độ tuổi dưới 18.
Ở Việt Nam, từ năm 1995 đến năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng đô thị tăng lên, dao động trong khoảng 3,0 đến 3,5%, cá biệt có những năm tỷ lệ tăng trưởng đô thị khá cao như năm 1997 là 9,2% hay năm 2003 là 4,2%, năm 2004 là 4,2%. Tính chung trong thời kỳ 1999-2009, tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số đô thị là 3,4%/năm. Đối với giai đoạn từ 1995 đến nay, tỷ lệ tăng trưởng đô thị ở Việt Nam không quá khác biệt so với các nước đông Nam Á với mức tăng trưởng dân số đô thị trong thời kỳ 1995-2000 là 3,6% (TCTK, 2011).
2. Quy mô thành phố
Với 3,3 tỷ dân đô thị trên thế giới được phân bố không đồng đều ở các vùng đô thị với quy mô khác nhau. 52% dân cư đô thị thế giới sống ở những thành phố và thị trấn có ít hơn 500.000 người. Bức tranh tương tự cũng ở cả các nước phát triển và đang phát triển, với 54% và 51% dân cư đô thị ở các quốc gia này sống trong thành phố. Sự mở rộng của các vùng đô thị hoặc thông qua đô thị hoá khu vực rìa đô thị, cho thấy một thách thức lớn cho quy hoạch đô thị ở khắp các vùng trên thế giới.
Phân bố dân số thành thị theo qui mô có sự khác nhau giữa các khu vực chính. Ví dụ, châu Âu là trường hợp ngoại lệ, có 67% dân số thành thị sống ở các trung tâm đô thị có dân số trên 500.000 dân và chỉ có 8% sống tại các thành phố có dân số trên 5 triệu dân. Châu Phi có sự phân bố dân cư thành thị theo qui mô thành thị giống như ở Châu Âu, với 58% dân thành thị sống ở các thành phố nhỏ và chỉ có 9% sống tại các thành phố có dân số trên 5 triệu dân. Ở châu Á, Mỹ La Tinh và vùng Caribe, Bắc Mỹ dân số tập trung tại các thành phố lớn với 1/5 dân số thành thị sống tại thành phố lớn đông dân. Tỷ lệ người dân thành thị sống ở các thành phố nhỏ ở mức 49%-48% ở châu Á và ở châu Mỹ La Tinh và vùng Caribe và 37% ở Bắc Mỹ. Vùng Thái Bình Dương là một trường hợp đặc biệt vì không có thành phố nào trên 5 triệu dân, nhưng cũng có tỷ lệ tương đối thấp (38%) dân số sống tại các đô thị có dân số dưới nửa triệu người.
Ở các nước phát triển
Khoảng 63% cư dân đô thị ở các nước phát triển tập trung ở những thành phố vừa và nhỏ, và chỉ với 9,8% cư dân sống ở những thành phố lớn. Vấn đề về mở rộng đô thị. Vấn đề mở rộng đô thị một cách lộn xộn diễn ra nghiêm trọng hơn ở Bắc Mỹ, nơi mà từ đầu những năm 1990, có một số lượng lớn cư dân đã có xe hơi riêng. Vấn đề này có vẻ ít nghiêm trọng hơn ở Tây Âu, nơi có tỉ lệ chủ xe hơi vào những năm 1970 chỉ bằng Mỹ những năm 1930.
Ở các nước quá độ
Các nước quá độ chỉ có một thành phố lớn – Matxcơva (10,4 triệu người) – và không có sự tập trung đô thị với số dân khoảng 5 đến 10 triệu. Cơ cấu tập trung cho phép chính quyền thiết lập những thành phố mật độ cao về hệ thống giao thông công cộng. Những khía cạnh này tạo nên thành phố đông đúc và ưu tiên vùng trung tâm.
Ở các nước đang phát triển
Trong khi ở các nước đang phát triển chiếm 14 trên tổng số 19 siêu thành phố của thế giới, chỉ có 8,4% dân cư đô thị sống ở các thành phố như vậy. Phần dân số lớn hơn của cư dân đô thị (61,4%) sống ở những thành phố dưới 1 triệu dân. Những thành phố đang phát triển cũng trải qua những vấn đề liên quan tới đô thị hoá vùng ven. Đặc biệt, đô thị hoá vùng ngoại ô cũng góp phần vào sự “leo thang” của chi phí cơ sở hạ tầng và vận chuyển dịch vụ. Khía cạnh phân biệt trong sự tăng trưởng các thành phố ở những nước đang phát triển, đặc biệt ở Mỹ Latin và châu Phi, là một đặc điểm nổi bật của đô thị. Điều này đặt ra những thách thức quy hoạch phức tạp phải đối mặt như mở rộng đô thị lộn xộn, tắc nghẽn giao thông và suy thoái môi trường.
Tại Việt Nam, theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, các trung tâm đô thị được phân bố theo quy mô dân số như sau: Số đô thị có từ 2.000.000 dân trở lên là 2 thành phố, chiếm 33,9% tổng số dân đô thị; số đô thị có từ 500.000 - < 2.000.000 dân là 4 thành phố, chiếm 12% tổng dân số đô thị; số đô thị có từ 200.000 - < 500.000 dân là 9, chiếm 8,7% tổng dân số đô thị; và số đô thị có từ 100.000 - < 200.000 dân là 17, chiếm 10,2% tổng dân số đô thị. So với các Tổng điều tra Dân số và Nhà ở trước đây, số lượng đô thị có các quy mô dân số như trên đều tăng và tỷ trọng dân số đô thị của các đô thị lớn đã tăng lên rõ rệt, cho thấy một xu hướng tập trung dân cư ở các đô thị lớn.
Bảng 2. Phân bổ dân số đô thị theo quy mô thành phố Việt Nam, 1979-2009

 
Dân số đô thị
Tỷ trọng dân số đô thị (%)/tổng dân số của đô thị
Số lượng đô thị
Đô thị có 2.000.000 dân trở lên
1979
2.700.849
26,8
1
1989
2.899.753
22,8
1
1999
4.207.825
23,3
1
2009
8.612.920
33,9
2
Đô thị có 500.000 - < 2 triệu dân
1979
897.500
8,9
1
1989
1.089.760
8,6
1
1999
2.637.344
14,6
3
2009
3.052.870
12,0
4
Đô thị có 200.000 - < 500.000 dân
1979
703.863
7,0
2
1989
1.726.616
13,6
6
1999
1.394.137
7,7
5
2009
2.219.495
8,7
9
Đô thị có 100.000 - < 200.000 dân
1979
1.855.274
18,4
11
1989
1.501.255
11,8
12
1999
2.349.359
13,0
16
2009
2.594.629
10,2
17

Nguồn: TCKT (2011). Di cư và đô thị hoá ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt.
3. Những vấn đề về quy hoạch đô thị và xu hướng nhân khẩu học
Quá trình đô thị hoá và xu hướng nhân khẩu học đã có những tác động quan trọng tới quy hoạch đô thị trong tương lai.
Đô thị hoá nên được xem như một hiện tượng tích cực và tiền đề để cải thiện tiếp cận dịch vụ, tiếp cận cơ hội kinh tế và xã hội, và chất lượng sống tốt hơn cho người dân.
Quy hoạch đô thị ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á cần đáp ứng tốc độ nhanh của đô thị hoá. Trong những thách thức điển hình của quy hoạch đô thị hiện nay và trong một vài năm tới là làm thế nào giải quyết được vấn đề về nhà ở, nước sạch và vệ sinh cho dân số đô thị đang tăng nhanh. Quy hoạch đô thị cũng cần quan tâm đầy đủ tới quá trình phát triển đô thị, sự tăng trưởng đô thị lộn xộn và không có quy hoạch là thách thức đáng kể đối với phát triển đô thị bền vững.
Quy hoạch đô thị ở những nước đang phát triển cần phải quan tâm tới nhu cầu của dân số trẻ. Quy hoạch đô thị hướng tới dân số trẻ cần chú ý tới nhu cầu về giáo dục và đào tạo, cũng như thể thao và giải trí. Những thách thức về quy hoạch nảy sinh từ sự thiếu hụt đô thị không chỉ ở các nước đang phát triển mà trong cả những nước quá độ và phát triển, làm thế nào đáp ứng được chi phí về cơ sở hạ tầng, làm thế nào để xác định các thay đổi cho phù hợp với điều kiện xã hội. Quy hoạch đô thị cho dân số đang già hoá đòi hỏi những thích ứng, vì số dân đang già hoá có nhu cầu tăng về chăm sóc sức khoẻ, giải trí, dịch vụ xã hội, và những điều kiện khác nữa cho người già.

Làn sóng di cư tăng lên có nghĩa là các đô thị sẽ trở thành những vùng đa văn hoá. Quy hoạch đô thị cũng cần tìm kiếm sự cân bằng giữa các nhóm văn hoá để duy trì nếp sống đô thị và tránh sự phân chia, tách biệt các nhóm xã hội trong đô thị. Xung đột về tôn giáo, môi trường sống, và thẩm mỹ về kiến trúc là những vấn đề mà các nhà hoạch định đô thị cần phải quan tâm giải quyết.



* Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Môi trường và Các vấn đề xã hội - Trường Đại học KHXH và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội
 

Liên kết