ĐÀO TẠO NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
                                                                                                TS. TRẦN THỊ TUYẾT MAI*


1. Hiện trạng phát triển Nguồn nhân lực Việt Nam theo cấp bậc đào tạo
            Theo kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tính toán từ số liệu của TCTK và của TCDN, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo (LĐĐQĐT) so với tổng số lao động đang làm việc trong nền KTQD (LĐĐQLV) đã tăng liên tục từ 16% (2000) lên 26,2% (2005) và 40% (2010). Năm 2010 cả nước có 20,1 triệu người LĐĐQĐT, tăng lên 26,2% (2005) và 40% 2010. Năm 2010 cả nước có 20,1 triệu người LĐĐQĐT, tăng 12,9%/năm trong thời kỳ 2001-2010. Trong đó, số người được đào tạo trong Hệ đào tạo nghề là 14,26 triệu người, tăng tương ứng 16,3%/năm, chiếm 70,8% LĐĐQĐT và số người được đào tạo trong Hệ Giáo dục đào tạo là 5.882 triệu người, chiếm 29,2%; Số người đã qua đào tạo sơ cấp có bằng và không có bằng là 11,73 triệu (58,4%), tăng 23,2%/năm. Trung cấp 4,55 triệu (22,6%) tăng 3,9%/năm, Cao đẳng 1,09 triệu (5,4%), tăng 7,5 triệu/năm, Đại học 2,64 triệu (13,1%), tăng 10,1%/năm và trên Đại học có 132 ngàn người (0,7%) (tiến sĩ 20 ngàn), tăng 13,8%/năm. Tuy nhiên, chỉ có 8,4 triệu/20,1 triệu LĐĐQĐT tương ứng 41,7% có bằng, chứng chỉ do các cơ sở chức năng đào tạo trong và ngoài nước cấp, chiếm 17,2% LĐĐLV, số còn lại khoảng 11,7 triệu nguời tuy đã qua đào tạo nhưng chỉ ở dạng ngắn hạn (thường dưới 3 tháng) và không có bằng cấp, chứng chỉ.
            Năm 2010 tỷ lệ LĐĐQĐT trong ngành nông lâm ngư nghiệp là 15,3%, công nghiệp là 75,6%, xây dựng là 46% và dịch vụ là 67,2%.
            Nếu tính theo quy ước của Tổ chức lao động quốc tế ILO, kết quả TĐT Dân số và Nhà ở 1/4/2009 cho thấy tỷ lệ LĐĐQĐT của cả nước chỉ là 14,9% và rất khác biệt giữa các vùng: cao nhất là Đồng bằng sông Hồng 21,2%; Đông nam bộ 19,4%; Duyên hải trung bộ 13,8%; Trung du, miền núi phía Bắc 13,4%; Tây Nguyên 11% và thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu long là 7,8%.
            Theo kết quả điều tra lao động và việc làm 1/9/2009, tỷ lệ đã qua đào tạo CMKT của dân số hoạt động kinh tế 15 tuổi trở lên là 17,6%; thành thị 42,5% và nông thôn 11,7%; cao nhất là ở Đồng bằng sông Hồng 25,1%; Đông nam bộ 19,6%; Duyên hải trung bộ 17,1%; Trung du miền núi phía bắc 16,9%; Tây Nguyên 12,7% và thấp nhất là 0,7% Đồng bằng sông Cửu long ; là 9,7%.
            Chất lượng nhân lực trong các ngành các cấp I và một số ngành lĩnh vực kinh tế đặc biệt (Giao thông vận tải, Tài nguyên môi trường, Du lịch, Ngân hàng, tài chính, Công nghệ thông tin, Năng lượng hạt nhân, Nhân lực đi làm việc ở nước ngoài). Chủ thể tham gia phát triển (Cán bộ lãnh đạo, Đội ngũ công chức viên chức, Doanh nhân, cán bộ khoa học – công nghệ, Giáo viên, giảng viên, cán bộ y tế, Văn hóa, thể thao, tư pháp, Quốc phòng an ninh) cũng đã được đánh giá tương đối đầy đủ.
            Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), chất lương nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (tháng điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước châu Ấ tham gia xếp hạng, Việt Nam còn thiếu nhiều chuyên gia có trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề, chỉ số kinh tế tri thức (KET) của nước ta còn rất thấp, đạt 30,2 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia. Năng suất lao động xã hội (NSLĐXH) thấp. Theo số liệu năm 2007 NSLĐXH của Việt Nam chỉ đạt 1.500 USD trong khi NSSLĐXH của Ấn Độ gấp 1,6 lần; Malaixia gấp 10,3 lần và Hàn Quốc gấp 26,2 lần, NSLĐXH của Việt Nam lại có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước… NSLĐ của nhóm ngành nông nghiệp rất thấp, mới đạt 320 USD trong khi của Thái Lan là 2.089 USD, Philippin 2.108 USD và Inđônêxia 1.919 USD…
            Như vậy, chất lượng nhân lực thấp đang là một thách thức, một lực cản cho sự phát triển của nước ra trong quá trình cạnh tranh và hội nhập.
2. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực
            Theo kết quả tổng hợp từ dự thảo Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 của các Bộ, ngành và địạ phương, tổng số LĐĐQĐT sẽ tăng từ 20,1 triệu – 40% LDĐLV (2010) lên 30,5 triệu – 55% (2015) và 43,8 triệu – 70% (2020). Như vậy tổng số người LĐĐQĐT cần tăng thêm trong giai đoạn 2011-2020 là 23,7 triệu người, trong đó hệ sơ cấp, dạy nghề là 11,9 triệu người, hệ trung cấp là 7,15 triệu người, hệ cao đẳng là 2,11 triệu người, hệ đại học là 2,36 triệu người và trên đại học là 179 ngàn người tổng số có 11 ngàn tiến sĩ. Cộng thêm với số người cần đào tạo để thay thế cho số người LĐĐQĐT sẽ về hưu và mất đi mỗi năm sẽ cho ta thấy nhu cầu đào tạo là rất lớn…. Hơn nữa do thời gian đào tạo trong nhà trường ở mỗi cấp học khác nhau nên quy mô đào tạo mỗi năm của mỗi cấp học sẽ cần tính toán chi tiết…
            Các ngành cấp 1 và một số ngành/lĩnh vực kinh tế đặc thù (Giao thông vận tải, Tài nguyên môi trường, Du lịch, Ngân hàng, Tài chính, Công nghệ thông tin, năng lượng hạt nhân, nhân lực đi làm việc ở nước ngoài)/chủ thể tham gia phát triển (Cán bộ lãnh đạo, đội ngũ công chức viên chức, Doanh nhân, Cán bộ khoa học – công nghệ, Giáo viên, giảng viên, cán bộ y tế, Văn hóa, thể thao, tư pháp, Quốc phòng–an ninh) đã có dự báo chi tiết nhu cầu LĐĐQĐT đến năm 2020 theo từng cấp bậc và loại hình đào tạo. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để các cơ sở đào tạo tính toán nhu cầu truyển sinh và xác định các chuyên ngành, trình độ đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng…
3. Hiện trạng năng lực đào tạo nhân lực
3.1. Hệ Đại học và Cao đẳng:
            Tính đến hết năm 2010 cả nước có 414 trường Đại học và cao đẳng (không tính các trường thuộc khối Quốc phòng – an ninh) trong đó có 188 trường Đại học (50 trường tư) và 266 trường cao đẳng (30 trường tư) phân bố khắp trên các vùng của cả nước.
            Quy mô đào tạo có 1.401 ngàn sinh viên đại học trong đó có 984 ngàn sinh viên chính quy (70,2%) và 417 ngàn sinh viên vừa học vừa làm (29,8%) và 781 ngàn sinh viên cao đẳng trong đó 660 ngàn sinh viên chính quy (84,5%) và 121 ngàn sinh viên vừa học vừa làm (15,5%).
            Đội ngũ giảng viên có 77.542 giảng viên cơ hữu trong các trường Đại học trong đó có 9.803 GS, PGS, TSKH, TS (12,7%), 30.135 Thạc sỹ (38,9%); giảng viên trong các trường Đại học là 52.443 người, bình quân 198 sinh viên chính quy/GV; giảng dạy trong các trường cao đẳng là 25.081 người, bình quân 26 SVCQ/GV.
            Mức đầu tư hàng năm tính trên 1 SV các trường ĐH, CĐ là 5,13 triệu VNĐ (2009) bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư XDCB, mức đầu tư XDCB tính trên 1 sinh viên khi xây dựng trường mới khoảng 75-80 triệu VNĐ
3.2. Hệ thống Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề
            Năm 2010 cả nước có 123 trường cao đẳng nghề (CĐN) 306 trường trung cấp nghề (TCN) và 802 trung tâm dạy nghề (TTDN), đã phát triển được nhiều cơ sở dạy nghề tư thục: năm 2010 có 31 trường CĐN, 100 trường TCN và 296 TTDN. Ngoài ra còn có trên 1000 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và cơ sở giáo dục khác tham gia dạy nghề cho người lao động.
            Đội ngũ giáo viên tăng cả số lượng và nâng cao chất lượng. Tỷ lệ sinh viên/giảng viên hệ CĐN đạt 20/1 với 100% GV đạt chuẩn.

                Quy mô tuyển sinh năm 2010 được 1.748,2 ngàn người trong đó TCN và CĐN là 360,4 ngàn; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng là 1.387,8 ngàn người.



* Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam.

 

 

Liên kết