PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ XÂY DỰNG CÁC KHU KINH TẾ BIỂN ĐẢO GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
                                                                            TS. TRẦN ANH PHƯƠNG[*]


Biến đổi khí hậu đã và đang là hiểm họa toàn cầu đặc biệt với Việt Nam. Việt Nam có đường bờ biển trải dài khắp đất nước, vùng thềm lục địa lớn gấp 5 lần diện tích đất nước. Việt Nam có 28 tỉnh/thành phố có biển, đảo với dân số khoảng 30 triệu người. Dân số là chủ thể quản lý, đồng thời cũng là đối tượng chịu sự tác động của biến động môi trường, đặc biệt là môi trường biển, đảo. Để ứng phó với hiểm họa biến đổi khí hậu, có nhiều giải pháp khác nhau. Bài viết này bàn về một giải pháp quan trọng, đó là phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các khu kinh tế biển đảo ở nước ta.
     1. Thực trạng và thách thức về quản lý, phát triển kinh tế-xã hội biển, đảo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
     Việt Nam là quốc gia nằm kề sát Biển Đông thông ra Thái Bình Dương, với hơn 75% dân số sống dọc theo một bờ biển kéo dài hơn 3200 km. Cùng với đó, Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có mưa bão, lũ lụt, có 2 đồng bằng trù phú lớn nhất nước (Bắc Bộ và Sông Cửu Long) là nơi tập trung dân cư đông đúc (khoảng 70% dân số cả nước) với cao trình ngang bằng, thậm chí có vùng thấp hơn mực nước biển Đông. Vì thế, cùng với biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam đã và đang phải gánh chịu tình trạng nước biển dâng, xâm thực vào đất liền các vùng ven biển ngày càng lớn hơn.
     Theo đánh giá của các nhà khoa học, Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới phải gánh chịu thảm họa biến đổi khí hậu cùng với nguy cơ nước biển dâng vào loại nặng nề nhất. Ở Việt Nam, trong 50 năm qua,nhiệtđộtrungbìnhđã tănglên7°Cvà mcnưcbiểnđãdânglênkhoảng20cm. HiệntưngEl-NinovàLa-Ninađãảnh hưng lnhơn,thiêntai,đặcbiệtlàbãolũvàhạnhánngàycàngtrởnênkhốcliệtn. Báo cáo tháng 7/2007 của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là nước Đông Nam Á bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cả tác động của sựnónglêntoàncầu nhất là bởi nước biển dâng cao. WB đã đưa ra kịch bản cảnh báo là: Nếu nước biển dâng lên 1m vào năm 2100 sẽ tác động đến cả nước là 5,3% diện tích đất đai toàn quốc; 10,8% dân cư; 10,2% GDP; 10,9% diện tích đô thị; 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% diện tích đất trũng.
    Theo dự báo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Đến năm 2050, mực nước biển có thể dâng thêm 30 cm, và đến năm 2100, mực nước biển có thể dâng thêm 75 cm so với thời kỳ 1980- 1999. Nếu kịch bản này xảy ra vào năm 2100, ngoài 5 thành phố lớn ở nước ta sẽ bị ngập úng do triều dâng thì hầu hết các thành phố ven biển khác sẽ bị ngập triều, đặc biệt là các ấp, xã ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hai khu vực được đánh giá có nguy cơ ngập triều gây mặn nặng nhất là Bến Tre và Cà Mau. Mũi Cà Mau vài năm gần đây đã ngày càng bị biến dạng nhiều hơn và nguy cơ sẽ không thể giữ được hình thù đất mũi như trước là bằng chứng rất rõ về tình trạng nước biển dâng xâm thực đất liền ven biển ở nước ta. Dù là theo dự báo nào, rõ ràng hiện trạng trên đang là nguy cơ và là thảm họa quốc gia trong thế kỷ này.
     Nhận thức được tầm quan trọng đó, từ nhiều năm qua Việt Nam đã tích cực tham gia các Công ước quốc tế về biến đổi khí hậu, là thành viên của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc, hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực và thế giới tham gia vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên hoạt động chống biến đổi khí hậu đối với nước ta vẫn là vấn đề rất mới. Tri thức, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ, chuyên viên trong lĩnh vực này còn hạn chế và cả các phương tiện thiết bị kỹ thuật dự báo, ứng xử cũng còn bất cập trước yêu cầu thực tiễn. Nhìn chung ứng xử với biến đổi khí hậu của nước ta do đó vẫn còn chậm, thụ động, chưa đáp ứng được yêu cầu bức bách cần ứng phó lại những ảnh hưởng thời tiết cực đoan từ biến đổi khí hậu gây ra. Cần thấy rằng, Việt Nam là nước đang phát triển, vừa phải khẩn trương khắc phục các hậu quả nặng nề để lại sau chiến tranh kéo dài, vừa phải nỗ lực phát triển đất nước để vươn lên thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo. Vì thế, chúng ta khó tránh khỏi những khó khăn bất cập như: i) Thiếu lực lượng chuyên nghiệp trong khâu chỉ đạo, quản lý điều hành, thực thi công tác phát triển kinh tế - xã hội các vùng ven biển; ii) Ngân sách đầu tư cho chống biến đổi khí hậu tuy đã tăng cường hơn nhưng vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu đặt ra; iii) Yếu kém trong việc giáo dục, truyền đạt, huấn luyện dân cư nói chung và nhất là riêng với dân cư vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu về khả năng thích ứng …
     Để ứng phó ngày càng hiệu quả hơn trước những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về thể chế chính sách, cơ chế quản lý, đầu tư phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa học–kỹ thuật cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu… Trong đó, đặc biệt lưu ý đến giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các vùng dân cư vùng biển, đảo và ven biển, vì đó còn là yếu tố tạo vùng phát triển quan trọng nằm trong Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. 
     2. Quản lý dân cư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng các khu kinh tế biển, đảo là giải pháp tích cực để ứng phó với biến đổi khí hậu.
     Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương phát triển các loại hình khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế biển, đảo như một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy sự nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Định hướng phát triển chung về các khu kinh tế đã hoạch định, song thực tế, để thực hiện mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam “trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”, cũng là giải pháp phát triển bền vững. Việc lựa chọn các lĩnh vực kinh tế biển có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tập trung nguồn lực phát triển thì việc lựa chọn các hình thức tổ chức và địa bàn triển khai theo một lộ trình được khảo cứu kỹ lưỡng cũng là những yêu cầu không thể thiếu. Thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9 tháng 2 năm 2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X đã xác định 5 lĩnh vực được lựa chọn ưu tiên chiến lược là: (1) Khai thác, chế biến dầu, khí; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển.
Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển” là sự tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa, phát triển bền vững nền kinh tế trong tình hình mới.
     Đối với các khu kinh tế ven biển, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã xác định, để góp phần thực hiện mục tiêu cụ thể về kinh tế là “Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53% - 55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước”; sẽ triển khai “xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh… Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển”. Như vậy, việc “xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển” là một trong năm lĩnh vực ưu tiên mang tính chiến lược để tạo đột phá cho sự phát triển kinh tế biển thời kỳ đến năm 2020 và xa hơn.
     Theo định hướng phát triển trên, Quyết định số 1353/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định rõ phương hướng chung hình thành hệ thống 15 khu kinh tế ven biển bao gồm: Vân Đồn (Quảng Ninh); Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng); Nghi Sơn (Thanh Hóa); Đông Nam Nghệ An (Nghệ An); Vũng Áng (Hà Tĩnh); Hòn La (Quảng Bình); Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế); Chu Lai (Quảng Nam); Dung Quất (Quảng Ngãi); Nhơn Hội (Bình Định); Nam Phú Yên (Phú Yên); Vân Phong (Khánh Hòa); Phú Quốc (Kiên Giang); Định An (Trà Vinh) và Năm Căn (Cà Mau). Ngoài các khu kinh tế ven biển này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển thị xã Móng Cái (Quảng Ninh) thành thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quyết định số 99/2009/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 2009) và việc Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện đảo Côn Đảo đến năm 2020 (Bà Rịa - Vũng Tàu) đang được triển khai.
     Các khu kinh tế ven biển trong tương lai phát triển đến năm 2020 sẽ là những hạt nhân góp phần hình thành các khu kinh tế năng động, thúc đẩy sự phát triển chung, nhất là đối với các vùng nghèo trên các vùng ven biển của Việt Nam; đồng thời tạo tiền đề thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển. Để phát triển mạnh các khu kinh tế ven biển cũng đồng thời đòi hỏi chúng ta phải phát triển mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao của các khu kinh tế đó, có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, giỏi về chuyên môn kinh tế-kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, nhất thiết một yêu cầu đặt ra là đội ngũ các cán bộ, chuyên viên này sẽ phải giỏi cả kinh nghiệm ứng xử với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, của nước biển dâng cao… Quản lý tốt dân cư vùng biển, đảo cũng là nhu cầu cấp thiết, những con người ở đây sẽ là chủ thể của cộng đồng cư dân các vùng biển, đảo của cả nước để phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống và cũng là phương cách thích ứng với môi trường sống trước những tác động của thiên tai, bão lũ do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Để làm được điều này, các khu kinh tế biển, đảo phải đảm bảo tuân thủ các yêu cầu cơ bản là:
     - Đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao; có qui mô dân số phù hợp để phát huy hiệu quả các nguồn nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ và khai thác hiệu quả các tiềm năng về quỹ đất, mặt nước và không gian của khu kinh tế ven biển; phát triển bền vững.
     - Có tầm nhìn xa, phát triển theo hướng hiện đại.
     - Đảm bảo yêu cầu an ninh, quốc phòng.
     - Có cơ chế, chính sách và mô hình quản lý phát triển cho phép huy động được tối đa mọi nguồn lực cho phát triển.
     - Triển khai từng bước phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng vùng biển.
     Cách đặt vấn đề xây dựng các khu kinh tế biển, đảo như trên là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay cũng như yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Đối với từng vùng, trước mắt cần tập trung các nguồn lực để tạo ra những đột phá lớn. Cụ thể là, ở khu vực ven biển Miền Bắc, tập trung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) trở thành cửa mở hướng ra biển, phát triển theo hướng hội nhập kinh tế với khu vực Đông Bắc Á, trong hợp tác của hai hành lang, một vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ. Ở khu vực ven biển Miền Trung, trước hết xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) và Khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa) trở thành cửa mở hướng ra biển và theo hướng hợp tác phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây và Bắc - Nam. Ở khu vực ven biển Miền Nam, trước hết xây dựng Khu kinh tế Phú Quốc (Kiên Giang) trở thành cửa mở hướng ra biển, hội nhập kinh tế khu vực ASEAN.
     Thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam, việc phát triển kinh tế biển phải được tiến hành một cách bài bản, hệ thống và được xây dựng trên cơ sở các luận chứng khoa học vững chắc, trong đó công tác quy hoạch, trước hết là đối với một số lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng then chốt, phải được ưu tiên. Đến nay, hai trong số đó là quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển và quy hoạch phát triển hệ thống đường bộ ven biển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đánh dấu bước chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt trong tư duy kinh tế biển và quyết tâm chính sách phát triển kinh tế biển của Đảng và Chính phủ.
     Kết luận, Chiến lược Biển Việt Nam trong tiến trình đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, ngoài chủ trương đường lối chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển các khu kinh tế ven biển nêu trên, cần tiếp tục nghiên cứu để hình thành và thực hiện những cơ chế chính sách cụ thể cùng những biện pháp đồng bộ khả thi, đặc biệt coi trọng các bài học tổng kết từ thực tiễn phát triển các khu kinh tế này. Trong đó, có bài học xây dựng và thực hiện đề án quản lý dân cư vùng biển, đảo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao vừa có chuyên môn giỏi, phẩm chất chính trị tốt, vừa có khả năng thích ứng cao với những tác động bất thường của biến đổi khí hậu, của nước biển dâng cao.
Một việc quan trọng trước hết chúng ta cần làm ngay, đó là đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển qui mô dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực chất lượng cao của các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo, trong đó nòng cốt là cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc lĩnh vực kinh tế biển. Trên cơ sở đó lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý công tác tại các hải đảo, các vùng ven biển. Khuyến khích việc xây dựng cơ sở đào tạo ngành, nghề về biển ở bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề tại các vùng biển, đảo ở nước ta./.




[*] Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
 

Liên kết