ĐIỀU TRA GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2006: NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU

(PHẦN 2)

 

 

6. Vị thành niên (VTN) trong gia đình

6.1 Tham gia công việc gia đình

Trẻ em tham gia vào các công việc gia đình khá phổ biến. Có 83,2% cha mẹ trong tổng số hộ có trẻ trong độ tuổi 7-14 cho biết trẻ có tham gia ít nhất một công việc nội trợ. Trẻ em nam tham gia việc nội trợ ở tất cả các loại việc ít hơn so với trẻ em nữ. Trẻ em trong gia đình khá giả tham gia ít công việc gia đình hơn trẻ em thuộc các gia đình khác. Với trẻ em 15-17 tuổi, ngoài công việc nội trợ còn tham gia vào một số công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình (với 67,8% ý kiến của VTN và khoảng 56% ý kiến của cha mẹ). Trẻ em ở các hộ khá giả, ở thành thị và cha mẹ có học vấn cao thì tỷ lệ tham gia có ít hơn.

6.2  VTN tham gia lao động nhận tiền công

Khoảng 25% VTN 15-17 tuổi đã từng tham gia lao động để nhận tiền công/tiền lương, có sự khác biệt rõ rệt giữa tình trạng kinh tế của hộ gia đình, trình độ học vấn và dân tộc của VTN. 39,5% trẻ ở nhóm thu nhập 1 (nhóm thu nhập thấp nhất) có lao động nhận tiền công so với 9,3% trẻ ở nhóm thu nhập 5 (nhóm thu nhập cao nhất); VTN nhóm dân tộc ít người từng tham gia lao động nhận tiền cũng cao hơn hai lần so với nhóm người Kinh và người Hoa. Độ tuổi trung bình khi bắt đầu đi làm để nhận tiền công/tiền lương là 14,3 tuổi. Số giờ làm việc trung bình một tuần của VTN là 18 giờ, số giờ của nữ là 20,9 giờ so với 14,9 giờ của nam.

6.3 VTN tham gia ý kiến vào việc quyết định công việc gia đình và liên quan đến bản thân

Nhìn chung khoảng 1/3 số VTN đã được cha mẹ hỏi ý kiến về một trong các loại việc như: sản xuất kinh doanh; làm nhà, làm cửa; mua sắm đồ đạc đắt tiền; phân chia tài sản, của cải, đất đai, tiền bạc cho con cái.

Đối với các việc liên quan trực tiếp đến bản thân, tỷ lệ trẻ em được quyết định nhiều hơn. Hơn 80% các em được quyết định ít nhất một trong những việc liên quan đến bản thân. Các em ở thành thị và trong gia đình khá giả có mức độ quyết định thấp hơn trẻ em trong gia đình khác.

6.4 Đối tượng tâm sự của VTN về những vấn đề trong cuộc sống

Vấn đề được VTN chuyện trò, tâm sự nhiều nhất với gia đình, bạn bè là học hành và chuyện vui (hơn 95%). Đối với chuyện yêu đương và bất đồng với cha mẹ thì tỷ lệ VTN có trò chuyện, tâm sự với người khác ở mức thấp hơn (82,4% và 76,6%). Đối tượng được VTN tâm sự nhiều nhất là bạn bè ở tất cả mọi vấn đề, tiếp đến là người mẹ, anh chị em và cuối cuối cùng mới đến bố. VTN nữ thường có tỷ lệ trò chuyện, tâm sự với người khác nhiều hơn VTN nam.

6.5 Hiểu biết của VTN về Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em

Có 58% VTN 15-17 tuổi biết về Luật này, trong đó đa số VTN (77,5%) biết một phần nội dung, chỉ có 7,2% các em biết rõ nội dung và 15,3% có nghe tên nhưng không biết nội dung. Tỷ lệ VTN ở khu vực thành thị biết về Luật này cao hơn ở nông thôn, nữ cao hơn nam, số VTN có học vấn trung học cơ sở và trung học phổ thông biết nhiều hơn so với nhóm học vấn còn lại. Tỷ lệ biết về Luật BVCSGDTE của VTN tăng theo mức thu nhập của hộ gia đình.

6.6 Tình yêu, tình dục và việc sử dụng các biện pháp tránh thai của VTN

7% VTN đã từng có người yêu với độ tuổi trung bình là 15,8 và trong số những người đã yêu có 17,1% đã từng đưa người yêu đến chơi nhà và giới thiệu với cha mẹ. Nhóm mù chữ có tỷ lệ cao hơn so với các nhóm học vấn còn lại. Chỉ có 0,23% VTN tuổi 15-17% chưa có gia đình những đã từng có quan hệ tình dục. Đáng quan tâm là trong số này đại bộ phận không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục với lý do không cần thiết và không biết cách dùng.

6.7 Khó khăn trong cuộc sống và nguyện vọng của vị thành niên.

Ba khó khăn nhất hiện này của VTN là : thiếu thốn về chi tiêu (21,7%); học lực kém (10%); và muốn tiếp tục học nhưng không có điều kiện (10,5%). Khó khăn về chi tiêu, thiếu việc làm, hoặc việc làm có thu nhập thấp, học lực kém và không có điều kiện học cao hơn đối với trẻ VTN ở nông thôn cao hơn thành thị (trên dưới hai lần), ở trẻ em gái cao hơn so với trẻ em trai. 60,5% VTN mong muốn được tiếp tục học lên cao, tiếp đến là có việc làm (14,5%), rồi việc làm có thu  nhập cao (12,9%). Các nguyện vọng như đi xuất khẩu nước ngoài, tiếp tục học cao và đi du học ở trẻ em thành thị cao hơn đáng kể so với trẻ em nông thôn. Trong khi đó, nguyện vọng lớn nhất của trẻ em nông thôn chủ yếu là có việc làm, hoặc việc làm có thu nhập cao và thoát ly khỏi nông thôn. VTN ở hộ có thu nhập cao thường có tỷ lệ cao hơn về nguyện vọng đi du học nước ngoài và tiếp tục mong học cao hơn nữa.

7. Người cao tuổi (NCT) trong gia đình

7.1 Hộ gia đình có người cao tuổi

Số hộ gia đình có người cao tuổi chiếm 32,6% tổng số hộ và tập trung đông ở thành thị. Tỷ lệ hộ có người cao tuổi của nhóm hộ nghèo cao hơn đáng kể so với  nhóm giàu (35,4% so với 28,7%).

7.2 Tình trạng sức khỏe

Có 50% người cao tuổi cho biết sức khoẻ của họ từ bình thường trở lên. NCT ở thành thị, gia đình khá giả tự đánh giá sức khoẻ tốt hơn so với các nhóm còn lại.

7.3 Nguồn sống và mức sống

Nguồn sống của NCT khá đa dạng: 39,9% do con cháu cung cấp; 30% từ lao động của bản thân; 25,9% từ lương hưu hoặc trợ cấp và ngoài ra là từ các nguồn khác. Có sự khác biệt rất rõ giữa nam và nữ về nguồn sống chính. So với nam, phụ nữ cao tuổi phải dựa vào sự chu cấp của con cháu nhiều hơn hẳn (51,8% phụ nữ so với 26,5% nam giới).

7.4 Cách sắp xếp cuộc sống

Có 51,5% NCT muốn sống chung với con cháu, thể hiện rõ ở NCT tại nông thôn, là phụ nữ, hoặc ở các nhóm thu nhập thấp hơn. Lý do chính NCT muốn sống chung là để cha mẹ và con cái có thể giúp đỡ lẫn nhau, duy trì đạo lý gia đình.

7.5 Đời sống tinh thần, tình cảm

Việc con cái đã tách hộ về thăm hỏi cha mẹ là tập quán khá phổ biến ở Việt Nam. Trong 12 tháng qua có 95,9% số người sống riêng về thăm cha mẹ, có 47,3% số thành viên trong gia đình đã gửi tiền và hiện vật trợ giúp cha mẹ. Tỷ lệ gửi tiền về cho cha mẹ ở thành thị cao hơn nông thôn, nhóm hộ giàu cao hơn so với nhóm hộ nghèo (59,6% hộ giàu so với 35,7% hộ nghèo). Bản thân cha mẹ cũng là chỗ dựa cho con cháu trong cuộc sống hàng ngày. Trên 90% NCT cho biết họ hỗ trợ con cháu mình ít nhất một trong các hoạt động như  hỗ trợ về kinh tế; về kinh nghiệm; về chăm sóc gia đình... Trong đời sống tinh thần của NCTN việc trò chuyện, chia sẻ vui buồn trong cuộc sống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 37,5% NCTN cho biết khi vui, buồn họ thường trò chuyện, tâm sự với vợ hoặc chồng của mình, 24,8% tâm sự, trò chuyện với con và 12,5% tâm sự với bạn bè, hàng xóm.

7.6 Khó khăn của người cao tuổi.

Phần lớn NCT (64%) cho biết gặp khó khăn trong cuộc sống, trong đó 46% vì sức khoẻ yếu, 34% không đủ tiền sinh hoạt, 17,8% không đủ tiền chữa bệnh và 1,8% con cháu không quan tâm, tôn trọng và một số khó khăn khác.

8 Mâu thuẫn, xung đột và bạo lực gia đình

8.1 Mâu thuẫn và xung đột gia đình

Bất cứ lĩnh vực nào của đời sống gia đình như chăm sóc, dạy dỗ con cái, công việc làm ăn hay quan hệ ứng xử với nội ngoại hai bên, cách thức ứng xử giữa vợ và chồng đều có thể nảy sinh bất đồng ý kiến và dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng.

8.2 Các hình thức bạo lực gia đình và nạn nhân của bạo lực

Có khoảng 21,1% cặp vợ chồng xảy ra các hiện tượng bạo lực như: đánh, mắng chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu cầu. Nhìn chung tỷ lệ có hành vi bạo lực gia đình ở các thành phố nghiên cứu cao hơn ở các điểm dân cư khác. Tình trạng bạo lực xảy ra với cả người vợ và chồng. Tuy nhiên, người chồng vẫn là người gây bạo lực chính, chồng đánh vợ chiếm 3,4% trong khi tỷ lệ vợ đánh chồng là 0,6%. Bạo lực của cha mẹ đối với con cái thường là quát mắng và đánh đòn. Có 41,8% cha mẹ sử dụng hình thức “quát mắng” và 14% sử dụng hình thức “đánh đòn”. Bạo lực thường xảy ra đối với vị thành niên nam nhiều hơn vị thành niên nữ.

8.3 Các lý do dẫn đến mâu thuẫn, xung đột và bạo lực

Có 4 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mâu thuẫn, xung đột và bạo lực gia đình: Say rượu; ý kiến khác nhau trong làm ăn; khác nhau trong sinh hoạt và khó khăn về kinh tế.

8.4 Cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột và bạo lực

Bốn giải pháp thường được các cặp vợ chồng sử dụng là: “để lâu rồi qua” (15%  - 27%), “cả hai vợ chồng chủ động làm lành”, “chồng làm lành trước” hoặc “vợ làm lành trước”, trong đó giải pháp “để lâu rồi qua” và “chồng làm lành trước” là phổ biến nhất.

8.5 Hậu quả của bạo lực gia đình

Trong môi trường gia đình có bạo lực, người gánh chịu hậu quả trước tiên là nạn nhân của hành vi bạo lực, tiếp đến là những thành viên trong gia đình mà tổn thương nhiều nhất chính là hai đối tượng phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ thường có tâm trạng rất nặng nề và căng thẳng về tâm lý. Đối với trẻ em, đa số cảm thấy buồn, lo lắng (85,4%) và sợ hãi (20%).

9. Phúc lợi gia đình

9.1 Đặc điểm nhà ở và nguồn thắp sáng

Về nhà ở, có 55% người trả lời cho biết hiện họ đang ở nhà bán kiên cố, 25% nhà kiên cố và 19% nhà đơn sơ, nhà tạm. Chất lượng nhà ở phụ thuộc vào mức thu nhập của hộ gia đình. Về nguồn thắp sáng, 96,4% cho biết nguồn thắp sáng chính của gia đình họ là điện lưới quốc gia.

9.2 Nguồn nước ăn và nhà vệ sinh

Tỷ lệ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh là 86,5%, trong đó tỷ lệ hộ dùng nước máy chỉ có 24,6%, số gia đình có hố xí chỉ đạt 87,8%. Tỷ lệ có hố xí hợp vệ sinh cao hơn ở thành thị và nhóm hộ giàu.

9.3 Tiện nghi trong gia đình

Đại bộ phận hộ gia đình có các loại tiện nghi sinh hoạt thông dụng như 86,8% có tivi, 59,5% có xe máy, 40% có bếp ga và 35,5% có điện thoại cố định.

9.4 Mức sống của gia đình

Trên 65% người trả lời cho biết gia đình họ có mức sống trung bình so với các gia đình khác ở địa phương. Tỷ lệ tự đánh giá là nghèo nhất hoặc rất nghèo là 22%. Với loại hộ mà chủ hộ có trình độ đại học trở lên, tỷ lệ giàu cao hơn so với những trường hợp chủ hộ không có bằng cấp. Các gia đình chủ yếu tích luỹ tiền mặt chiếm 79,8%, bất động sản 22,9% và các tài sản quý giá khác gần 26%. Tỷ lệ tích luỹ ở các gia đình thành thị cao hơn ở nông thôn (53% so với 40,6%) và tỷ lệ thuận với trình độ học vấn của người trả lời.

9.5 Tiếp cận các dịch vụ cơ bản

Đã có một bộ phận người dân sử dụng các dịch vụ kinh tế – xã hội, hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế và phục vụ cho đời sống sinh hoạt như vay vốn ngân hàng, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, tư vấn lao động, việc làm, tư vấn về giá cả thị trường .... Mức độ hiểu biết và sử dụng các dịch vụ ở nam chủ hộ cao hơn (63,7% nắm được thông tin và 40,9% có sử dụng dịch vụ) so với nhóm nữ chủ hộ (54,6% biết thông tin và 32,5% có sử dụng dịch vụ)

9.6 Các hoạt động văn hoá, thể thao

Với vị thành niên, 86% cho biết trong 12 tháng qua các em có đọc sách báo, 41% đi xem phim/ca nhạc hoặc đến các điểm vui chơi, 71% có luyện tập thể dục/thể thao, 63,6% tham gia sinh hoạt đoàn thể và 38,6% sử dụng dịch vụ internet. Trừ việc sinh hoạt đoàn thể, tỷ lệ tham gia của vị thành niên ở thành thị vào các hoạt động nêu trên đều cao hơn nông thôn. Với người trưởng thành, có 18% nói rằng 12 tháng qua họ có đọc sách báo, 84,5% có xem tivi, 21,5% sang nhà hàng xóm chơi, 31,8% có luyện tập thể dục, thể thao và 1,9% tham gia câu lạc bộ hoặc hội. Với người cao tuổi, tỷ lệ cho biết có đọc báo, xem tivi và luyện tập thể dục/thể thao hàng ngày lần lượt là 42,7%, 79,7% và 86,3%. Các hình thức này, tỷ lệ tham gia của người cao tuổi thành thị cao hơn so với nông thôn, nam giới cao hơn so với nữ giới.

9.7 Nhóm gia đình với các nhu cầu dịch vụ đặc thù

Tỷ lệ gia đình chính sách hưởng chế độ trợ cấp theo các hình thức lĩnh trợ cấp hàng tháng là 70,5%, lĩnh trợ cấp lần 1 là 18,6% và lĩnh trợ cấp theo hình thức khác là 10,9%. Trong số gia đình thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới của Chính phủ có 87% được hưởng chế độ hỗ trợ của Nhà nước, địa phương hoặc các tổ chức, cá nhân từ thiện. Hình thức giúp đỡ chủ yếu là trợ cấp tiền và hiện vật, vay vốn với lãi suất ưu đãi, trợ cấp giáo dục và trợ cấp y tế. Có 4,6% gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm gia đình có người tàn tật, có phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, có người nghiện ma tuý, có người nhiễm HIV/AIDS, có người nhiễm chất độc da cam. Trong số này, có gần một nửa (47,2%) đã nhận sự hỗ trợ của Nhà nước.

Như vậy, cuộc điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 đã cung cấp 1 bức tranh tương đối toàn diện về những thay đổi trong đời sống gia đình Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Những kết quả của cuộc điều tra sẽ đáp ứng yêu cầu của các nhà quản lý trong hoạch định chính sách, chiến lược nhằm xây dựng gia đình Việt Nam phát triển bền vững.