TỔNG KẾT ĐỢT I CHIẾN DỊCH TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG, LỒNG GHÉP CHĂM SÓC SKSS/KHHGĐ ĐẾN VÙNG ĐÔNG DÂN CÓ MỨC SINH CAO,VÙNG KHÓ KHĂN NĂM 2008

 

I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI ĐỢT I CHIẾN DỊCH

1. Địa bàn, tiến độ triển khai và kinh phí

a) Về địa bàn

         Chiến dịch đợt I/2008 được triển khai tại 618 huyện so với tổng số huyện có kế hoạch triển khai. Chiến dịch đạt 91%. Toàn quốc đã có 6232 xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) thực hiện Chiến dịch đợt I/2008, đạt 86% tổng số xã có kế hoạch triển khai Chiến dịch trên toàn quốc (kế hoạch do địa phương xây dựng). Nếu tính riêng các tỉnh đã triển khai thực hiện Chiến dịch, tỷ lệ xã đã thực hiện Chiến dịch chiếm 92% kế hoạch. Tổng số xã đã triển khai Chiến dịch giảm gần 1.700 xã so với kết quả Chiến dịch đợt I/2007 (7.922 xã).

Có 32 tỉnh, thành phố triển khai đạt và vượt chỉ tiêu số xã Chiến dịch, trong đó có 10 tỉnh thành phố triển khai vượt mức kế hoạch các xã thực hiện Chiến dịch gồm: Hà Nam, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Bình Thuận, Khánh Hoà, Điện Biên, Quảng Ninh và Phú Yên.

Theo hướng dẫn, Chiến dịch đợt I/2008 thực hiện ở ít nhất 70% số xã địa bàn Chiến dịch, ngoài các tỉnh chưa thực hiện Chiến dịch có 7 tỉnh, thành phố chưa đạt chỉ tiêu này gồm: Hải Phòng, Hà Giang, Cà Mau, Sơn La, Đà Nẵng, Đắk Nông và Tuyên Quang.

 

b) Về tiến độ

Nhìn chung Chiến dịch năm 2008 triển khai tại các địa phương chậm và muộn hơn so với các năm trước. Cho đến giữa tháng 3/2008 mới chỉ có 16 tỉnh, thành phố có báo cáo kết quả thực hiện Chiến dịch đợt I. Tại thời điểm dự kiến kết thúc Chiến dịch đợt I/2008 (30/4/2008), chỉ có 55 tỉnh, thành phố đã triển khai Chiến dịch và chỉ có gần 2/3 số tỉnh, thành phố đạt chỉ tiêu về số xã triển khai Chiến dịch đợt I. Sau khi cho phép các tỉnh kéo dài thời hạn triển khai Chiến dịch đợt I đến 30/6/2008 vẫn còn 4 tỉnh chưa báo cáo kết quả triển khai Chiến dịch đợt I/2008: Tuyên Quang, Tây Ninh, An Giang, Trà Vinh.

c) Đầu tư kinh phí

Theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh, thành phố, Chiến dịch đợt I/2008 đã sử dụng trên 23 tỷ đồng, trong đó có 7 tỉnh, thành phố đầu tư từ ngân sách địa phương 300 – 1.000 triệu đồng gồm: Hậu Giang, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Bình D­ương, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế. Trong đó, Hậu Giang và Hà Nội đã huy động nguồn kinh phí từ địa phương cao gấp 3-4 lần kinh phí được hỗ trợ từ Trung ương cho Chiến dịch đợt I/2008. Bình quân toàn quốc, kinh phí địa phương đóng góp cho Chiến dịch ở mức 30% tổng kinh phí chiến dịch.

2. Hoạt động truyền thông giáo dục, tuyên truyền vận động

            Chiến dịch đã sử dụng hầu hết các kênh truyền thông hiện có để tuyên truyền vận động các tổ chức, đoàn thể và nhân dân tham gia Chiến dịch. Trong đó, các hoạt động tuyên truyền vận động trực tiếp như nói chuyện chuyên đề, vận động tại nhà được ưu tiên thực hiện. Kết quả đã tổ chức khoảng 100.000 buổi nói chuyện chuyên đề, 55.000 buổi truyền thanh, phát thanh và cấp phát trên 2.2 triệu tờ rơi, tài liệu tuyên truyền cho các đối tượng.

            Các hoạt động tuyên truyền, đặc biệt chú trọng tuyên truyền, vận động đối tượng là những cặp vợ chồng đã có 2 con trở lên và những đối tượng chưa thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Cộng tác viên dân số, hội viên của một số tổ chức, đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội nông dân... được huy động để thực hiện các hoạt động tuyên truyền vận động trước và trong Chiến dịch. Trong đó, cộng tác viên DS - KHHGĐ tuyến xã là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, tư vấn và vận động các đối tượng thực hiện các biện pháp tránh thai, đặc biệt đối với biện pháp đặt vòng và triệt sản.

            Đa số các địa phương đều tổ chức các hoạt động truyền thông trên hệ thống đài truyền thanh xã, huyện và đài phát thanh truyền hình tỉnh, báo địa phương bám sát diễn biến của Chiến dịch, đưa tin về những điển hình xã, huyện thực hiện đạt kết quả cao.

            Một số cơ quan truyền thông đại chúng ở Trung ương đã bám sát Chiến dịch, thực hiện nhiều tin, bài, phóng sự về tình hình triển khai và kết quả của Chiến dịch như: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các báo lớn và các báo, tạp chí... Báo Gia đình và Xã hội thường xuyên cử phóng viên đi cơ sở, cập nhật thông tin từ các địa phương và trong các bản Thông báo Chiến dịch của Trung ương phục vụ công tác truyền thông, tạo nên những tác động tích cực trong việc chỉ đạo triển khai Chiến dịch.

            Theo báo cáo, các hoạt động tuyên truyền tại cơ sở đã được triển khai khá nhiều, song kết quả của chiến dịch chưa đạt được các mục tiêu KHHGĐ năm 2008

3. Kết quả thực hiện các gói dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ

Theo báo cáo của 58 tỉnh, thành phố, Chiến dịch đã cung cấp dịch vụ cho trên 3 triệu lượt cặp vợ chồng thực hiện các dịch vụ chăm sóc SKSS/ KHHGĐ, trong đó trên 1,5 triệu trường hợp được cung cấp các dịch vụ tránh thai. So với năm 2007, kết quả thấp hơn đáng kể và chỉ chiếm khoảng 70% so với kết quả Chiến dịch đợt I/2007.

3.1. Kết quả gói dịch vụ KHHGĐ

Ngày 30/6/2008 chiến dịch đã cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho hơn 1,5 triệu lượt đối tượng thực hiện các BPTT hiện đại.

Theo hướng dẫn, chỉ tiêu các biện pháp tránh thai lâm sàng thực hiện trong Chiến dịch đợt I/2008 đạt ít nhất 35% kế hoạch năm của các xã triển khai Chiến dịch. Theo số liệu tổng hợp báo cáo sơ kết, trên toàn địa bàn Chiến dịch đã thực hiện cung cấp các biện pháp tránh thai lâm sàng cho 408.786 trường hợp, đạt 33,7% chỉ tiêu kế hoạch năm 2008. Có 31 tỉnh, thành phố đã đạt và vượt 35% chỉ tiêu kế hoạch năm 2008 của các xã địa bàn Chiến dịch, được coi là đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đợt I Chiến dịch năm 2008. Trong đó có 5 tỉnh, thành phố đạt từ 50% trở lên là: Nam Định, Cần Thơ, Hải Dương, Đắc Lắc và Vĩnh Long.

Bên cạnh các tỉnh chưa báo cáo tình hình thực hiện Chiến dịch, có tới 8 tỉnh, thành phố mới chỉ đạt dưới 20% chỉ tiêu các biện pháp tránh thai lâm sàng trong thời gian Chiến dịch gồm:   Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Định, Hà Giang,  Sơn La, Bình Ph­ước, Kiên Giang, Gia Lai và Đắk Nông.

- Kết quả biện pháp triệt sản: Thực hiện 5.566 ca triệt sản, đạt 23,6% kế hoạch Chiến dịch năm 2008. Chỉ có 10 tỉnh đạt từ 35% kế hoạch Chiến dịch trở lên gồm: Hậu Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Đắk Lắk, Nghệ An, Nam Định, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Cà Mau và Thái Bình. Tuy nhiên, nhiều địa phương đạt kết quả triệt sản rất thấp. Có tới 16 tỉnh chỉ đạt dưới 10% chỉ tiêu Chiến dịch.

- Kết quả biện pháp đặt vòng tránh thai:  Thực hiện 330.619 ca, đạt 33% kế hoạch Chiến dịch năm 2008. Có 27 tỉnh, thành phố đạt từ 35% kế hoạch Chiến dịch trở lên, trong đó có 5 tỉnh, thành phố đạt từ trên 50% kế hoạch Chiến dịch là: Nam Định, Hải Dương, Cần Thơ, Long An và Đắc Lắc.

Tuy nhiên, còn tới 18 tỉnh đạt dưới 25% kế hoạch về vòng tránh thai thực hiện trong Chiến dịch, trong đó đặc biệt có 2 tỉnh chỉ đạt dưới 5% chỉ tiêu là: Gia Lai và Đắc Nông.

- Kết quả biện pháp thuốc tiêm, cấy: Thực hiện được 72.601 ca thuốc tiêm, thuốc cấy, đạt 38,7% chỉ tiêu kế hoạch Chiến dịch năm 2008. Có 21 tỉnh, thành phố đạt từ 50% kế hoạch Chiến dịch năm 2008 trở lên, trong đó có 33 tỉnh, thành phố đạt từ 70 -210% kế hoạch Chiến dịch. 8 tỉnh, thành phố đã đạt trên 70% kế hoạch gồm: Nam Định, Phú Thọ, Cần Thơ, Đồng Nai, Vĩnh Long, Quảng Nam, Quảng Trị và Khánh Hòa.

3.2. Kết quả gói dịch vụ Phòng chống các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản

Chiến dịch đã thực hiện khám phụ khoa cho 1.343.954 lượt phụ nữ, trung bình mỗi xã khám phụ khoa cho 215 trường hợp; điều trị cho 710.796 trường hợp, chiếm 53% so với tổng số khám.

Khám và điều trị viêm nhiễm đường sinh sản được bổ sung bằng một số dịch vụ kỹ thuật như soi tươi, phiến đồ âm đạo, siêu âm... được xem là một yếu tố quan trọng thu hút sự tham gia của đối tượng và là một biện pháp tăng số người sử dụng các BPTT.

II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CHIẾN DỊCH

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

Mặc dù có biến động về tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ, ngay từ cuối năm 2007, Bộ Y tế đã sớm thực hiện việc hướng dẫn và ban hành các văn bản về xây dựng kế hoạch Chiến dịch năm 2008. Việc chỉ đạo triển khai thực hiện Chiến dịch được quan tâm và coi là một nhiệm vụ trọng yếu trong thực hiện kế hoạch năm 2008. Trong thời gian triển khai Chiến dịch, đã phát hành 04 bản thông báo kịp thời cung cấp thông tin về tình hình triển khai Chiến dịch trên toàn quốc, biểu dương những địa phương chủ động triển khai đạt kết quả cao, kịp thời chỉ đạo địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đôn đốc nhắc nhở những tỉnh, thành phố triển khai chậm, kết quả thấp. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi tổ chức, các đợt giám sát địa phương thực hiện Chiến dịch thường phải lồng ghép với các hoạt động khác nên tính hệ thống và tính chuyên đề chưa cao, do đó còn hạn chế trong việc thúc đẩy tiến độ triển khai thực hiện Chiến dịch của các địa phương.

Đa số các địa phương coi trọng việc thực hiện Chiến dịch, tập trung chỉ đạo việc xây dựng, phê duyệt và triển khai Chiến dịch. Tuy nhiên, những khó khăn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi tổ chức đã có những tác động nhất định đến việc tổ chức triển khai Chiến dịch, dẫn đến sự suy giảm về địa bàn cũng như kết quả triển khai Chiến dịch. Theo báo cáo của các địa phương, dường như việc chỉ đạo tổ chức triển khai Chiến dịch là những hoạt động được khôi phục đầu tiên trong quá trình ổn định tổ chức. Các dấu hiệu này được thấy rõ trong các báo cáo kết quả Chiến dịch giai đoạn cuối của Chiến dịch đợt I.

2. Triển khai Chiến dịch và kết quả đạt được

2.1. Chiến dịch năm 2008 được triển khai muộn và chậm hơn so với các năm trước do những khó khăn trong quá trình chuyển đổi, củng cố tổ chức . Các chỉ tiêu chủ yếu của Chiến dịch đều giảm sút so với cùng kỳ năm 2007. Trên phạm vi cả nước, chỉ tiêu về thực hiện các BPTT lâm sàng trong Chiến dịch chỉ đạt 33,7%. Tuy nhiên, đã có 31 tỉnh, thành phố đã đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch Chiến dịch đợt I năm 2008. Trong đó, 5 tỉnh, thành phố đạt từ 50% trở lên là: Nam Định, Cần Thơ, Hải Dương, Đắc Lắc và Vĩnh Long. Ngược lại có 6 tỉnh, thành phố không triển khai được Chiến dịch đợt I/2008 gồm: Tuyên Quang, Hoà Bình, Ninh Thuận, Tây Ninh, An Giang, Trà Vinh.

2.2. Lãnh đạo các cấp uỷ, Chính quyền các tỉnh, thành phố đã quan tâm chỉ đạo, quyết tâm tổ chức thực hiện Chiến dịch đạt kết quả ở mức cao nhất. Uỷ ban Nhân dân nhiều tỉnh đã phê duyệt kế hoạch sớm, có chỉ thị riêng cho việc chỉ đạo tổ chức thực hiện Chiến dịch, một số tỉnh đã chỉ đạo sử dụng nguồn kinh phí của văn phòng Sở Y tế để thực hiện Chiến dịch trong những thời điểm khó khăn về con dấu và tài khoản.

2.3. Với sự nỗ lực của hệ thống làm công tác DS-KHHGĐ và các đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ kỹ thuật các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, mặc dù không đạt kết quả cao nhưng Chiến dịch đợt I/2008 cũng đã đóng góp kết quả thực hiện chỉ tiêu các BPTT năm 2008 của địa phương.

2.4. Ngay sau khi hình thành tổ chức bộ máy mới, nhiều địa phương đã nỗ lực triển khai và tập trung chỉ đạo hoàn thành các chỉ tiêu về DS-KHHGĐ trong đó có việc thực hiện các chỉ tiêu của Chiến dịch đợt I/2008. Dấu hiệu hồi phục này được thể hiện rõ ở kết quả các BPTT lâm sàng tăng hơn 4 lần từ 80 ngàn (thông báo số 3) lên trên 333 ngàn trường hợp (thông báo số 4) chỉ  trong vòng 1 tháng.

3. Một số hạn chế trong tổ chức chỉ đạo thực hiện

3.1. Ở một số địa phương cấp uỷ Đảng, Chính quyền chưa quan tâm đầy đủ đến việc chỉ đạo, thực hiện Chiến dịch, phê duyệt kế hoạch muộn. Cá biệt có địa phương đến hết tháng 4/2008 vẫn chưa triển khai kế hoạch thực hiện Chiến dịch năm 2008 (Tuyên Quang, Tây Ninh, An Giang, Trà Vinh), riêng Hoà Bình, Ninh Thuận không triển khai chiến dịch

3.2. Nhiều địa phương không quan tâm đầy đủ, chưa có các phương án khắc phục những khó khăn trong quá trình chuyển đổi tổ chức bộ máy dẫn đến tình trạng không thực hiện tốt Chiến dịch, không phối hợp tốt giữa việc thực hiện Chiến dịch và cung cấp các dịch vụ tránh thai thường xuyên.

3.3. Công tác giám sát thực hiện Chiến dịch còn chưa được thường xuyên cả ở Trung ương và địa phương.

III. MỘT SỐ TRỌNG TÂM CỦA CHIẾN DỊCH ĐỢT II NĂM 2008

1. Các địa phương cần rà soát kế hoạch Chiến dịch năm 2008, xác định vai trò của Chiến dịch và việc thực hiện những mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ năm 2008, coi Chiến dịch là giải pháp trọng điểm của Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ trong 6 tháng cuối năm 2008.

2. Nhanh chóng kiện toàn tổ chức, xác định và giao nhiệm vụ cụ thể  cho các đơn vị, cá nhân có liên quan đến thực hiện Chiến dịch đợt II/2008; Tăng cường công tác chỉ đạo để triển khai thực hiện Chiến dịch đợt II/2008 phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu Chiến dịch năm 2008. 

3. Đối với các tỉnh chưa triển khai thực hiện Chiến dịch bao gồm: Tuyên Quang, Hoà Bình, Ninh Thuận, Tây Ninh, An Giang và Trà Vinh, đề nghị Sở Y tế tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch Chiến dịch, chỉ đạo triển khai Chiến dịch tại tất cả các xã địa bàn Chiến dịch năm 2008 ngay trong tháng 8 - 10.

4. Đối với những địa phương đạt kết quả thấp trong Chiến dịch cần chỉ đạo kiểm điểm rút kinh nghiệm và báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố có biện pháp tăng cường chỉ đạo trong đợt II và xây dựng kế hoạch đợt Chiến dịch bổ sung vào tháng 8-10 năm 2008.

5. Các địa phương chủ động triển khai đợt II Chiến dịch và báo cáo tiến độ triển khai đợt II Chiến dịch về Trung ương theo qui định.