TÌM HIỂU VẤN ĐỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG LUẬT TỤC DÂN TỘC CHĂM

                                                         LƯU TÍCH THÁI HÒA*

 

Luật tục dân tộc Chăm là hệ thống những quy tắc xử sự chứa đựng những tiêu chí về đạo đức, cách ứng xử, phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo, để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng người Chăm. Mọi thành viên trong cộng đồng thực hiện một cách tự giác. Trong hệ thống luật tục dân tộc Chăm, những quy định về hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung cơ bản, có vị trí quan trọng, gần gũi, thiết thực nhất trong đời sống cộng đồng người Chăm. Nội dung của những quy định về hôn nhân và gia đình trong luật tục dân tộc Chăm bao gồm những nội dung sau:

1. Chế độ hôn nhân

Nguyên tắc kết hôn. Theo luật tục dân tộc Chăm, việc kết hôn trong cộng đồng người Chăm phải trên nguyên tắc tự nguyện. Điều đó có nghĩa là những cặp nam, nữ được tự do tìm hiểu nhau. Khi tình yêu của họ đã đến độ chín muồi thì gia đình bên nữ chủ động gặp gỡ, trao đổi với gia đình bên nam. Sau khi hai bên đã thống nhất và đồng ý cho đôi nam nữ tiến đến hôn nhân, bên nữ chuẩn bị các bước lễ sau: lễ dạm hỏi (nau akauk panuơc); lễ hỏi (nau panuơc); lễ kết (paklok panuơc); lễ cưới (băng mưnhum). Lễ cưới đóng vai trò quan trọng vì có sự tham gia chứng kiến của hai bên gia đình, tộc họ, làng xóm. Đây là bằng cớ của hôn nhân được Luật tục dân tộc Chăm công nhận.

Điều kiện kết hôn. Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, nữ giới đi cưới chồng, là họ nội, nam giới là họ ngoại. Luật tục Chăm quy định: “ Con gái 16 tuổi, con trai 18 tuổi không có quan hệ họ hàng máu mủ thì được kết hôn với nhau”.

Luật tục Chăm cũng quy định các trường hợp được kết hôn gồm: những người chưa có vợ, chưa có chồng; những người đã kết hôn nhưng vợ (hoặc chồng) bị chết đã mãn tang ít nhất một năm; những người cùng dân tộc, cùng một tôn giáo. Đồng thời, luật tục dân tộc Chăm quy định các trường hợp cấm kết hôn, bao gồm: Cấm kết hôn giữa những người cùng tộc họ bên mẹ, dù xa mấy đời cũng không được lấy nhau. Dòng họ được tính theo huyết thống bên mẹ và việc phân biệt giữa dòng họ này với dòng họ khác thông qua Kút (tạm hiểu là nghĩa địa của dòng họ). Người Chăm quan niệm những người có cùng huyết thống khi chết đi đều nằm chung một Kút nên họ không được lấy nhau.

Luật tục dân tộc Chăm quy định các trường hợp cấm kết hôn nêu trên vì cộng đồng người Chăm quan niệm nếu ai cùng dòng họ, cùng huyết thống mà kết hôn với nhau thì những người trong gia đình, dòng họ đó thường xảy ra đau ốm cùng lúc hoặc bị chết bất đắc kỳ tử.

Luật tục Chăm không ép buộc kết hôn trong trường hợp người anh chết thì người em trai phải lấy vợ của anh mình và ngược lại khi em chết thì người anh không bắt buộc phải lấy vợ của em mình như tục lệ “hôn nhân nối dây” của một số đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.

Luật tục dân tộc Chăm cấm kết hôn giữa những người khác dân tộc, đặc biệt đối với người phụ nữ tuyệt đối không được lấy người khác dân tộc vì cộng đồng người Chăm quan niệm họ không cùng tục thờ thần, tiếng nói của mình nên khó hòa nhập cùng cộng đồng. Người nào kết hôn với người khác dân tộc thì sẽ bị cộng đồng người Chăm xem là người “ngoại lai” và sẽ bị cả cộng đồng xa lánh. Đồng thời, luật tục dân tộc Chăm cũng cấm kết hôn trong trường hợp hai người cùng dân tộc nhưng khác tôn giáo nhằm bảo tồn tôn giáo của cộng đồng họ.

Chế độ ly hôn.Trong quan hệ vợ chồng, người Chăm sống rất tình cảm và chung thuỷ với nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm gia đình và chia sẻ những khó khăn với nhau.

Luật tục dân tộc Chăm có câu: “Thà bới cơm trong nồi cho ăn, không ai chịu chồng mình đi lấy vợ lẽ”. Do đó, vấn đề ly hôn trong cộng động người Chăm rất ít xảy ra. Việc ly hôn chỉ xảy ra khi có những lý do chính đáng như: chồng uống rượu bê tha về nhà hành hạ, đánh đập, ngược đãi vợ, theo vợ bé…và ngược lại, khi người vợ bỏ bê nhà, không chăm sóc con cái…

Về phân chia tài sản sau ly hôn và goá, nếu hai vợ chồng ly hôn mà có tài sản chung, nhưng không có con nối dòng mà lỗi thuộc về người vợ thì tài sản được chia làm 3 phần, hai phần cho vợ và một phần cho chồng. Trường hợp nếu hai vợ chồng có con mà khi ly hôn, lỗi thuộc về người vợ thì tài sản được chia 3 phần: một phần chia cho vợ, một phần chia cho con (phần con do người mẹ nắm giữ) và một phần cho chồng. Nếu ly hôn mà phần lỗi thuộc về người chồng thì người chồng không được chia một thứ tài sản nào cả.

Trong thời kỳ hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng đã tạo ra một khối tài sản chung nhưng không may chồng chết trước thì khối tài sản chung này do người vợ quản lý. Người vợ phải có trách nhiệm làm đám tang, cúng tháng (patrip) cho chồng xong thì mới được quyền tái giá và được hưởng toàn bộ tài sản đó. Nếu trường hợp chồng chết mà chưa làm đám tang, nhưng người vợ vội vàng lấy chồng thì thân tộc gần nhất bên chồng có quyền yêu cầu vợ chia phần tài sản của người chồng để tộc họ làm đám tang. Có như vậy mới thể hiện được sự chung thuỷ. Trong những trường hợp khi người chồng chết mà người vợ chưa làm đám tang cho chồng, chưa mãn hạn tang chồng đã tái giá thì người vợ đó bị cộng đồng lên án và coi người vợ đó là người ngoại tình trong tang. Trường hợp vợ mất trước thì người chồng có có quyền quản lý toàn bộ tài sản chung, có trách nhiệm làm đám tang cho vợ, đồng thời có trách nhiệm nuôi con khôn lớn thì mới được tái giá. Khi mãn tang vợ, người chồng có quyền tái giá, nhưng trong trường hợp này, trong cộng đồng người Chăm có điểm đặc thù là khối tài sản chung của vợ, chồng đó được giao lại toàn bộ cho con gái út. Trong trường hợp không có con gái thì tài sản đó được giao cho cháu ruột của vợ.

Về con cái sau ly hôn, luật tục dân tộc Chăm quy định sau khi ly hôn hai vợ chồng có con mặc dù người chồng có đúng hay sai cũng không được mang con theo. Vì cộng đồng người Chăm theo chế độ mẫu hệ. Họ quan niệm rằng nếu người chồng mang con theo về nhà cha, mẹ hoặc về nhà bên vợ khác thì những tổ tiên bên dòng tộc đó không chấp nhận người con. Họ cho rằng người con mà chồng mang theo không cùng dòng tộc với người chồng hay bên nhà vợ khác nên sau này việc dựng vợ, gả chồng cho con sẽ không có một dòng tộc nào chịu trách nhiệm, thậm chí khi người con chết đi cũng không được nhập Kút.

2. Chế độ gia đình trong luật tục dân tộc Chăm

Mô hình gia đình của người Chăm phổ biến hiện nay là mô hình gia đình nhiều thế hệ, gồm 2 cặp vợ chồng trở lên, thường là cha, mẹ và vợ, chồng con gái út cùng với con cái của họ, có cơ sở kinh tế chung. Ngoài cơ sở kinh tế chung trong gia đình, từng cặp vợ chồng thành viên có thể làm ăn riêng như ruộng, rẫy, chăn nuôi để họ tích luỹ một số tài sản trong việc chủ động chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trong mô hình gia đình người Chăm, phụ nữ lớn tuổi nhất, thuộc thế hệ cao nhất trong gia đình thường là chủ hộ gia đình, có trách nhiệm về mọi hoạt động kinh tế và lễ nghi trong gia đình.

Vai trò của vợ, chồng trong gia đình. Trong gia đình người Chăm, người vợ đóng vai trò quan trọng, là người chủ hộ trong gia đình và được hưởng quyền thừa kế tài sản của cha mẹ, đặc biệt là con gái út. Tuy nhiên hiện nay, trong cuộc sống gia đình vợ chồng cũng thể hiện sự bình đẳng với nhau, có sự bàn bạc trong việc làm ăn và quyết định những việc lớn trong gia đình như tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế mà có giá trị tài sản lớn.

Việc phân công lao động của mỗi thành viên trong gia đình rất chặt chẽ. Chẳng hạn, trong sản xuất nông nghiệp, những công việc nặng nhọc như cày bừa, xây dựng nhà cửa…đều do người chồng đảm trách. Người vợ thường làm những nghề truyền thống như dệt, làm đồ gốm…và cũng là người có vai trò hỗ trợ đắc lực cho người chồng. Chính sự bình đẳng và phân công công việc một cách hợp lý như vậy nên đời sống gia đình trong cộng đồng người Chăm thường tương đối ổn định.

Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.

- Luật tục dân tộc Chăm tôn trọng quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

- Luật tục Chăm quy định quyền, nghĩa vụ cụ thể của các thành viên trong gia đình. Cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi con khôn lớn. Mọi việc sai trái của con chưa đến tuổi trưởng thành đối với xóm làng, cộng đồng thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi sai trái đó.

Con phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc cha mẹ còn sống và lo đầy đủ các lễ nghi cho cha mẹ khi cha mẹ chết đi như: đám tang, nhập Kút…Nếu con cái không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ, đặc biệt là con gái út, thì tuỳ theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý như: Không được quyền tham gia các lễ nghi cúng kính lúc cha mẹ về già; không được quyền thừa kế tài sản của cha mẹ khi cha mẹ chết và sẽ bị cộng đồng, tộc họ, gia đình lên án, xa lánh. Nếu người đó muốn được hoà nhập vào lại cộng đồng, tộc họ, gia đình thì người đó phải chịu thú lỗi bằng lễ vật “trầu, rượu” với cha mẹ trước gia đình, tộc họ.

3. Một số nhận xét chung về vấn đề hôn nhân và gia đình trong luật tục dân tộc Chăm

Những tiến bộ :

- Hôn nhân trên nguyên tắc tự nguyện, một vợ, một chồng, không có sự ép buộc, cưỡng ép trong hôn nhân từ phía cha mẹ, tộc họ; quy định vợ hoặc chồng sau khi mãn tang có quyền kết hôn với người khác; đề cao sự chung thuỷ giữa vợ, chồng và không có tục hôn nhân nối dây như các dân tộc ít người khác.

- Thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng cũng như các thành viên trong gia đình. Vợ chồng bình đẳng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con để con trở thành người con hiếu thảo trong gia đình. Bên cạnh đó, luật tục dân tộc Chăm còn quy định sự phân công lao động một cách hợp lý, phù hợp với khả năng của mỗi thành viên trong gia đình.

Những hạn chế:

- Độ tuổi kết hôn thấp hơn độ tuổi kết hôn quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Đây là nguyên nhân của tình trạng tảo hôn trong cộng đồng người Chăm hiện nay.

- Cấm kết hôn khác dân tộc, tôn giáo nên trái với nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

- Thủ tục kết hôn rất rườm rà và tốn kém tiền của của bên nữ nên phần nào đã ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế trong gia đình.

- Sau khi tổ chức lễ cưới trong gia đình thì hai họ và làng xóm công nhận họ là vợ chồng mà chưa quy định đôi vợ chồng phải đến Ủy ban nhân cấp xã nơi cư trú bên nam hoặc nữ để đăng ký kết hôn. Điều này dẫn đến tình trạng các cặp vợ chồng trong cộng đồng người Chăm không có đăng ký kết hôn tương đối nhiều, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của chính quyền cơ sở.

- Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn chưa thể hiện đúng những quy định của pháp luật năm 2005. Ảnh hưởng đến những quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và chưa phù hợp với điều kiện hiện nay.

Những mặt hạn chế trong các quy định của luật tục dân tộc Chăm nêu trên có tác động đến sự phát triển, trong hoạt động quản lý, Chính quyền cơ sở cần chú ý khắc phục những hạn chế nêu trên tạo điều kiện cho cộng đồng người Chăm thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình, nhằm xây dựng gia đình trong cộng đồng người Chăm ngày càng tiến bộ, hạnh phúc phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.



* Ging viên Trường Chính tr tnh Ninh Thun