NHÌN LẠI 20 NĂM THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI – THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC

VŨ NGỌC BÌNH*

 

Công ước về quyền trẻ em được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc chính thức thông qua ngày 20-11-1989 (Nghị quyết số 44/25 ngày 20-11-1989) và mở cho các nước ký ngày 26-1-1990 nhân kỷ niệm lần thứ 30 thông qua Tuyên ngôn về quyền trẻ em (1959-1989) và lần thứ 10 kỷ niệm năm Quốc tế thiếu nhi (1979-1989). Công ước có hiệu lực và được công nhận là luật quốc tế từ ngày 2-9-1990, đến nay đã có 193 quốc gia thành viên (qua phê chuẩn hay gia nhập) và như vậy có gần 100% số trẻ em trên thế giới là ở những quốc gia thành viên Công ước. Điều này đã làm cho Công ước trở thành công ước về quyền con người được hưởng ứng và chấp nhận rộng rãi nhất, nhanh chóng nhất trong lịch sử luật quốc tế về quyền con người.

1.   Những tiến bộ và thành tựu

            189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc tại Hội nghị cấp cao thiên niên kỷ do Liên hợp quốc tổ chức ở Niu Oóc (Mỹ) ngày 6-8-2000 đã nhất trí thông qua Tuyên bố thiên niên kỷ và cam kết thực hiện 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ sau mà phải hoàn thành vào năm 2015 đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến trẻ em:

1.           Xoá bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực

2.           Đạt phổ cập giáo dục tiểu học

3.           Thúc đẩy bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ

4.           Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em

5.           Cải thiện tình hình sức khoẻ sinh sản

6.           Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các căn bệnh khác

7.           Bảo đảm môi trường bền vững

8.           Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển.

Những thách thức toàn cầu

Để Công ước về quyền trẻ em trở thành hiện thực không phải là vấn đề đơn giản và dễ dàng, mà là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Đã tròn 20 năm kể từ khi Công ước được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua, tình hình trẻ em trên thế giới đã không được cải thiện nhiều như mong muốn và quyền trẻ em vẫn tiếp tục bị vi phạm nghiêm trọng dước nhiều hình thức khác nhau mặc dù nhiều nước đã có những quy định pháp luật về phúc lợi và quyền của trẻ em, nhưng trên thực tế vẫn không được thực hiện các quy định đó dù ở mức tối thiểu. Việc vi phạm quyền con người của trẻ em luôn là vấn đề mang tính thời sự diễn ra ở khắp mọi nơi với các mức độ khác nhau.

Cứ 3,6 giây đồng hồ trôi đi trên thế giới lại có 1 người chết vì đói mà phần lớn là trẻ em dưới 5 tuổi. Mỗi ngày có khoảng 18.000 trẻ em chết vì đói và suy dinh dưỡng và 5,6 triệu chết trước khi 5 tuổi. Cứ 100 trẻ em sinh ra ngày hôm nay có: 40 em không được đăng ký khai sinh, 26 em không đươc tiêm chủng phòng bệnh, 19 em không có nước sạch để dùng, 30 em sẽ bị suy dinh dưỡng trong 5 năm đầu, 17 em (có 9 em gái) không bao giờ đến trường, và cứ 100 em vào học lớp 1 thì chỉ 75 em học hết lớp 5. Hàng năm có gần nửa số trẻ em ở các nước đang phát triển (không kể Trung Quốc do không có số liệu) không có giấy tờ tuỳ thân, nhất là giấy khai sinh đã làm mất đi quyền cơ bản của các em về giáo dục, y tế và các dịch vụ cơ bản khác.

Thế giới hiện có 2.212 triệu trẻ em dưới 18 tuổi và 625,7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi (36% tổng số dân các độ tuổi) với mỗi năm có thêm 132 triệu trẻ em sinh ra. Tỷ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi đã giảm hơn 50% so với 2 thập kỷ trước đây song hiện vẫn còn khoảng 10 triệu chết hàng năm trước khi các em 5 tuổi. 1 trong số 12 em chết chủ yếu vì những lý do có thể phòng ngừa được và nếu như trong năm 1960 có 20 triệu trẻ em chết hàng năm thì trong năm 2006 có 9,7 triệu trẻ em (18,5 mỗi phút, hơn 1.107 mỗi giờ và gần 2,7 vạn mỗi ngày) chết vì bệnh tật có thể phòng ngừa được. Hơn 70% số trẻ em chết vì uốn ván sơ sinh (37%), viêm phổi (19%), tiêu chẩy (17%), sốt rét (8%), sởi (4%) và HIV/AIDS (3%). Trẻ sơ sinh (0 đến 28 ngày) có nguy cơ cao nhất và chết gần 4 triệu mỗi năm.

Hơn 26,7% số trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển (hơn 2/3 ở châu Á) bị suy dinh dưỡng với khoảng 143 triệu trẻ em. Suy dinh dưỡng là nguyên nhân của nửa số trẻ em chết hàng năm và có 6 triệu trẻ em chết vì suy dinh dưỡng trước khi các em 5 tuổi. 15% số trẻ em sinh ra nhẹ cân (dưới 2.500 gram) và số trẻ em nhẹ cân dưới 5 tuổi là 25% mà hầu hết ở các nước đang phát triển với 146 triệu em (25% tổng số) suy dinh dưỡng, còi cọc và thấp bé nhẹ cân. Khoảng 100 triệu trẻ em thiếu vitamin A vốn rất cần cho hệ thống miễn dịch của các em để sống còn, tăng trưởng và phát triển.

Hơn 70% trong số 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng hiện ở 10 nước đang phát triển và nửa trong số này ở vùng Nam á. Một số nước Nam á, Đông á, châu Phi Sahara và Trung Đông có tình hình trẻ em suy dinh dưỡng và đói nghiêm trọng mà các nguyên nhân có thể dự báo và phòng ngừa được. Sức khỏa trẻ em được cải thiện là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Nếu đầu tư mỗi một đô la Mỹ vào sức khỏa trẻ em thì sẽ thu lại được 7 đô la qua việc bớt chi phúc lợi xã hội và làm tăng năng suất lao động của thanh niên và người lớn.

Ước tính trên thế giới có khoảng 10% dân số thế giới là người tàn tật (hơn 650 triệu người). Trong số này có 80% sống ở các nước đang phát triển và hơn 150 triệu là trẻ em. Trẻ em tàn tật thường do chiến tranh, bệnh tật (bẩm sinh hoặc không được phát hiện và chữa trị kịp thời) và suy dinh dưỡng. Các nguyên nhân khác dẫn tới tàn tật là: nghèo khổ, tai nạn, môi trường ô nhiễm, thái độ của xã hội...Chỉ tính riêng từ khi Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực đến nay, trên thế giới có hàng chục cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang lớn nhỏ làm hơn hàng triệu người chết và vài chục triệu người khác bị thương và bị chấn thương nặng về tâm lí. Hơn 80% số này là dân thường mà hầu hết là trẻ em và phụ nữ do thường ít được bảo vệ nhất và phải chịu hậu quả nhiều nhất.

            Đại dịch HIV/AIDS có từ năm 1981 và trong năm 2007 có 33,2 triệu người đang sống chung với HIV mà không biết hoặc ít hiểu biết về tình hình nhiễm của họ. Trong số này, 30,8 triệu là người lớn (15,4 triệu là phụ nữ) và 2,5 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. 40% trong độ tuổi thành niên 15-24 tuổi. 96% số nguời có HIV ở các nước đang phát triển nghèo và thu nhập thấp. Riêng trong năm 2007 có thêm 2,5 triệu mới nhiễm HIV (mỗi ngày có thêm hơn 6.800 người - 1.200 trẻ em dưới 15 tuổi và 5.800 người từ 15 tuổi trở lên) và trong số này có 2,1 triệu người lớn và 0,42 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. Tỷ lệ lây nhiễm ở thanh thiếu niên (tuổi 15-24) cao một cách đáng lo ngại, đặc biệt nữ có nguy cơ lây nhiễm cao hơn nam với tỷ lệ hơn 60% những người trong độ tuổi. Nhóm dân số này chiếm 40% những người có HIV mới.

            Tỷ lệ phụ nữ trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS trên thế giới tăng rất nhanh: năm 1985 là 35%, lên 47% năm 1997 và đến cuối năm 2006 đã lên 48%. Vùng sa mạc Sahara của châu Phi chỉ chiếm 10% dân số thế giới song cũng chiếm tới 68% số người sống chung với HIV/AIDS toàn thế giới và ở đây, trong số 22,5 triệu người sống chung với HIV/AIDS có tới 56% là phụ nữ. Tỷ lệ này ở khu vực Nam và Đông Nam á là 60%. Tại một số nước châu Phi, nguy cơ bị nhiễm HIV với phụ nữ cao gấp 4 đến 6 lần so với nam giới. Ở một số nước trong khu vực này, 30% phụ nữ mang thai nhiễm HIV. Phần đông trong số 1.800 trẻ em hàng ngày trên thế giới nhiễm HIV là trẻ sơ sinh (0 đến 28 ngày) và 35% trong số này nhiễm từ mẹ, trong đó 5% lây nhiễm lúc còn nằm trong bào thai, 15% trong khi sinh nở và 15% trong thời kỳ bú mẹ. Tuy nhiên, trong năm 2005 chỉ có 9% số bà mẹ mang thai ở các nước thu nhập thấp và trung bình trên thế giới được có các dịch vụ để phòng ngừa việc lây nhiễm từ mẹ sang con mới sinh của họ.

            Cũng trong năm 2007 đã có 2,1 triệu người đã chết vì AIDS và trong số này 76% ở khu vực Sahara châu Phi (mỗi ngày có 5.754 người), trong đó có 1,7 triệu người lớn và 0,33 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. Ước tính số trẻ em mồ côi dưới 18 do AIDS lên tới 15,2 triệu trong tổng số 132,7 triệu trẻ em mồ côi vì các nguyên nhân khác nhau. 86 vạn trẻ em phải nghỉ học vì giáo viên bị AIDS. Ở nhiều nước, ngân sách y tế chủ yếu dành cho công tác phòng chống HIV/AIDS. Trẻ em bị nhiễm hay bị ảnh hưởng, tác động của HIV/AIDS (trong đó có nhiều trẻ em tàn tật) thường bị phân biệt đối xử và thành kiến, bị xa lánh, bỏ mặc và không được tham vấn, chăm sóc, hỗ trợ và không được đến trường.   

Vẫn còn hơn 40% số nước trên thế giới chưa đưa thông tin về phòng chống HIV/AIDS vào chương trình học các cấp phổ thông. Bạo lực chống phụ nữ và trẻ em gái góp phần làm vấn đề HIV/AIDS ngày càng lan rộng và trầm trọng ở nhiều nơi trên thế giới. Đến cuối năm 2006, chỉ có khoảng 2 triệu người trên thế giới được có thuốc kháng HIV trong khi con số người cần thuốc là 7 triệu người.

Nhiều nơi trên thế giới vẫn có tình trạng phân biệt đối xử trên cơ sở giới (gender discrimination) bắt đầu từ sớm và tệ ưa thích có con trai đã dẫn đến ít sinh con gái hơn. Hơn 100 triệu phụ nữ và trẻ em gái hàng năm trên thế giới sẽ còn sống đến hôm nay nếu không có sự phân biệt đối xử về giới, thể hiện ở việc lựa chọn giới tính thai nhi cũng như được có cùng chế độ dinh dưỡng và chăm sóc như cha, anh em trai của họ. Các hình thức cực đoan của sự phân biệt bao gồm giết trẻ em gái, nạo thai có chọn lựa và sự ruồng bỏ trắng trợn khi còn trong bụng mẹ hay sau khi đã ra đời. Việc nạo phá thai được tiến hành qua siêu âm để xác định giới tính trước sinh. Cách làm này đã làm tăng sự phá thai đối với thai nhi (foeticide) là gái hay sát hại trẻ em gái sau khi sinh ra (infanticide) mà phổ biến ở một số nước châu Á. Lựa chọn thai nhi theo giới tính đã làm ít nhất 10 triệu trẻ em gái bị loại bỏ ngay từ trong bụng mẹ trong hai thập kỷ qua ở ấn Độ, với trung bình 0,5 triệu “mất tích” hàng năm và làm mất cân bằng dân số như trong năm 1981, cứ 1.000 em trai 6 tuổi có 962 em gái và tỷ lệ này trong năm 1991 là 1.000/945 và trong năm 2001 là 1.000/927. Trong năm 2005, Ấn Độ có 566 triệu công dân nam và 536 triệu công dân nữ và tỷ lệ này ở Trung Quốc là 676-640 triệu. Như vậy số công dân nam ở 2 cường quốc lớn nhất về dân số này vượt trội nữ tới 66 triệu người. Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì sự cách biệt nam nữ sẽ lên tới hàng trăm triệu.

Bạo lực với trẻ em phổ biến tràn lan và hàng năm có 275 triệu em bị bạo lực gia đình. Trong năm 2002 có 150 triệu trẻ em gái và 73 triệu trẻ em trai dưới 18 tuổi bị cưỡng bức quan hệ tình dục hay các dạng bạo lực khác về tình dục hay thể xác. Đó không phải là vấn đề mới nhưng việc thừa nhận tác động nghiêm trọng và mức độ, hình thức của nó là mới đang gia tăng. Cho đến gần đây, vấn đề này thu hút sự chú ý nghiêm túc mặc dù trước đây do tính nhạy cảm xã hội nên rất ít các thông tin về vấn đề này.

Hàng năm có hơn 1 triệu trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục. Nạn buôn bán trẻ em phát triển nhanh chóng với 30 triệu trẻ em là nạn nhân. Hàng trăm ngàn trẻ em gái dưới 18 tuổi bị buôn đi bán lại trong nước và qua biên giới cho các mục đích khác nhau. Cũng hàng triệu trẻ em, mà trước hết là trẻ em gái là trẻ mồ côi, lang thang cơ nhỡ hoặc phải sống trong các trung tâm nuôi dưỡng hoặc bị giam cầm do vi phạm pháp luật mà không có sự bảo trợ, chăm sóc, thăm nom của gia đình.

Hiện có 30 vạn trẻ em phải trực tiếp tham gia chiến sự làm binh lính, cửu vạn và lao động cưỡng bức hay các công việc khác vốn nguy hiểm đến tính mạng và ước tính từ năm 1998 đến nay có 10 vạn trẻ em được giải ngũ và hoà nhập cộng đồng.

Hơn 130 triệu phụ nữ và trẻ em gái ở 28 nước (hàng năm có khoảng 2 triệu em hay cứ 15 giây có một em) mà chủ yếu ở châu Phi, Trung Đông và Nam á từ sơ sinh đến tuổi trưởng thành đã phải bị cắt bỏ một phần hay hầu hết bộ phận kích dục ngoài ở bộ phận sinh dục nữ  để “đảm bảo sự trinh bạch và trong trắng” của phụ nữ và trẻ em gái gây đau đớn và tổn thương nghiêm trọng với các biến chứng phức tạp có thể dẫn đến tử vong, làm tổn thương vĩnh viễn cơ quan sinh dục và các chức năng bình thường, dễ rủi ro lây nhiễm HIV.

Trẻ em bị buộc trở thành người lớn trước tuổi 18 với khoảng 60 triệu trẻ em gái phải tảo hôn vốn là một vấn nạn còn phổ biến trên thực tế ở nhiều quốc gia và khu vực mà đã bị ngăn cấm trong pháp luật quốc gia ở các nước này. Tảo hôn và các nguyên nhân khác làm 15 triệu trẻ em gái tuổi từ 15 đến 19 sinh con, chiếm hơn 10% số trẻ em sinh ra hàng năm trên thế giới. Nguy cơ tử vong do thai nghén của nhóm bà mẹ trẻ này cao hơn 4 lần so với những phụ nữ từ 20 tuổi trở lên. Có 36% số phụ nữ tuổi từ 20-24 phải tảo hôn mà đây là chuyện thường gặp tại vùng Sahara châu Phi và Nam á - những nơi vẫn còn các điều cấm kỵ về quan hệ tình dục trước hôn nhân ràng buộc và các bậc cha mẹ thường cảm thấy an toàn một khi con gái họ sớm đi lấy chồng. Ngoài ra, việc cho con gái đi lấy chồng còn giúp họ giảm bớt gánh nặng về kinh tế. Tại một số quốc gia, có đến một nửa số phụ nữ kết hôn trước tuổi 18. Lý do của việc phụ nữ lấy chồng sớm bắt nguồn từ phong tục lạc hậu, vì nghèo khổ hoặc vì bị gia đình ép buộc.

Số người sống dưới mức nghèo khổ cùng cực (dưới một đô la Mỹ/ngày) trên thế giới giảm dần trong 50 năm qua song vẫn còn từ 1.250 triệu người, trong đó phụ nữ chiếm 70% (khoảng 900 triệu người). 2.700 triệu người khác sống nghèo khổ với mức dưới hai đô la Mỹ một ngày và 25% dân số thế giới không đủ ăn, 854 triệu người hàng ngày phải chịu đói triền miên (trong đó có 300 triệu trẻ em và các em này chịu cảnh suy dinh dưỡng trầm trọng) trong khi con số này trong năm 1996 là khoảng 800 triệu.

Trong năm 2006, 51 triệu trẻ em sinh ra không được khai sinh với 44% ở khu vực Nam á. Do nghèo đói mà nhiều trẻ em phải lao động khi còn ít tuổi. Lao động của các em không chỉ giúp tăng thu nhập kinh tế gia đình mà còn giúp bố mẹ lúc tuổi già. Tuy nhiên, sự suy thoái kinh tế trong nhiều năm qua ở nhiều nước, dân số lại tăng nhanh trên thế giới, sự gia tăng đô thị hóa và thất nghiệp, lạm phát đã làm cho vấn đề lao động trẻ em trở nên tồi tệ nhất trong vòng hơn 10 năm qua. Trẻ em phải tiếp xúc với những loại công việc nguy hiểm, độc hại, nhiều rủi ro mới xuất hiện trong các khu vực kết cấu và phi kết cấu. Ước tính có 1/6 số trẻ em hay 158 triệu trẻ em (độ tuổi 5-14) mà chủ yếu ở các nước đang phát triển (1/4 số trẻ em trong độ tuổi) phải tham gia lao động kiếm sống. Hầu hết các em lao động toàn thời gian và không có điều kiện cắp sách tới trường, phải làm các công việc độc hại, nặng nhọc, bị bóc lột và lạm dụng gây tổn hại nghiêm trọng đến sự phát triển trí lực và thể lực của các em. Có 8,4 triệu trẻ em đang phải lao động dưới các hình thức độc hại, nặng nhọc nhất, kẻ cả mại dâm và gán nợ và gần 2 triệu em phải mại dâm và một con số lớn các em khác đi ở làm người giúp việc gia đình.

Toàn cầu hoá và nhiều lý do khác làm chưa bao giờ trên toàn thế giới lại có nhiều người di cư ra khỏi quốc gia của mình để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn như hiện nay. Số người di cư quốc tế (international migrants) gia tăng đáng kể trong suốt 4 thập kỷ qua, từ 75 triệu năm 1960 lên 192 triệu năm 2006. Trong số này, 159 triệu là người di cư tự nguyện và 14,2 triệu còn lại là người tị nạn mà phụ nữ và trẻ em chiếm đa số. Họ phải sống xa quê hương, đất nước và 24,5 triệu người (36% là trẻ em) phải sống tha phương ngay tại đất nước mình vì thiên tai, nội chiến, xung đột chủng tộc, thanh lọc sắc tộc, khủng bố...

Giáo dục trẻ em gái đã đạt được những bước tiến đáng kể trong 30 năm qua - tỷ lệ nhập học thô ở tiểu học tăng từ 52% lên hơn 85% ở các nước nghèo có thu nhập thấp. Trong số 129 nước công bố số liệu về giáo dục cho mọi người, chỉ 51 nước đã gần đạt được 4 mục tiêu đề ra tại Hội nghị Thế giới về giáo dục cho mọi người năm 1990 và được khẳng định tại Diễn đàn Giáo dục thế giới năm 2000 là: phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ cho người lớn, bình đẳng giới trong giáo dục và giáo dục chất lượng. 53 nước mới đi được nửa chặng đường và 25 nước khác còn phải cố gắng rất lớn và còn rất lâu mới đạt được các mục tiêu này trong khi những nước này đang phải vật lộn với đói nghèo cùng cực, có chiến tranh và xung đột vũ trang.

Phong tục lạc hậu. Tỷ lệ đi học ở trẻ em gái là 72 so với 100 em trai ở bậc tiểu học. Vẫn còn 10% trẻ em trong độ tuổi tiểu học với 113 triệu không đi học mà phần đông là trẻ em gái), trong đó 96% là ở các nước đang phát triển và gần 20% số trẻ em gái có đi học song lại bỏ dở giữa chừng vì nhiều lý do như chi phí học tập tốn kém, thiếu sự cam kết bằng chính sách của các nhà lãnh đạo, thái độ truyền thống ưa thích con trai, trẻ em phải lao động nhiều hơn hàng ngày nên ít thời gian học, ngôn ngữ và chương trình học không phù hợp, thiếu giáo viên nữ, cộng đồng và cha mẹ không quan tâm đến việc xoá mù chữ cho con gái, nghèo khổ, tảo hôn, bạo lực và quấy rối tình dục ở trường học và các gánh nặng khác... 60% số trẻ em trong độ tuổi trung học được đến trường song lại 1 trong số 6 em trong độ tuổi trung học đang đi học tiểu học. Cũng chỉ có 43% số trẻ em gái trong độ tuổi trung học ở các nước đang phát triển được cắp sách đến trường cũng vì những lý do tương tự. Thế giới cũng đã không đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ ba cần phải đạt vào năm 2005 là bình đẳng giới ở các cấp tiểu học và trung học. Bất bình đẳng và cách biệt giới vẫn tồn tại đáng kể không chỉ ở trung học mà cả ở đại học với 5% đến 10% là sinh viên nữ.

Gánh nặng nợ nước ngoài tác động lớn đến trẻ em ở các nước đang phát triển do những nước này phải gắng sức chi trả nợ nước ngoài nhiều hơn chi các khoản xã hội trong nước. Các lĩnh vực bị cắt giảm ngân sách thường là giáo dục và y tế. Do vậy việc hoãn chậm, giảm nợ hay xoá nợ sẽ có ích lợi cho trẻ em.



* Điu phi viên quc gia Chương trình CEDAW Đông Nam Á, Qu Phát trin ph n Liên hpquc (UNIFEM)