Khái quát chương trình Dân số và phát triển

Dân số là một lĩnh vực quan trọng liên quan đến mọi mặt của đời sống con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Chính sách dân số luôn là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Vấn đề dân số không đơn thuần chỉ là câu chuyện của mỗi gia đình riêng lẻ hay của một ngành mà là vấn đề của toàn xã hội, của mỗi quốc gia và của toàn thế giới.

Gần 60 năm dân số đã được kiểm soát

Năm 1961 Chính phủ ta đã ban hành Quyết định số 216-CP vào ngày 26 tháng 12 về việc hướng dẫn sinh đẻ cho nhân dân, cho thấy Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới sớm quan tâm đến vấn đề dân số, đến yếu tố dân số trong phát triển.Cả giai đoạn tập trung nhiều nhất vào mục tiêu giảm sinh, tuy nhiên trong vài thập kỷ mức sinh vẫn giảm chậm và bắt đầu có kết quả mạnh từ sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (NQTƯ 4) năm 1993 về Chính sách DS-KHHGĐ.

Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong công tác Dân số là Việt Nam trong gần 60 năm qua là đã khống chế thành công được tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, đạt và duy trì mức sinh thay thế trong hơn một thập kỷ qua. Tốc độ tăng dân số nước ta đã giảm từ hơn 2% năm 1993 xuống 1,14% giai đoạn 2009-2019. Số con trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm mạnh từ 3,74 con năm 1992 xuống 2,33 con năm 1999 và 2,09 con năm 2006, đạt mức sinh thay thế sớm hơn 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đề ra và được duy trì cho đến nay. Quy mô dân số nước ta ổn định, dân số tăng chậm, hạn chế việc tăng thêm gần 20 triệu người đó là nhờ công tác kế hoạch hóa gia đình.Rõ ràng từ sinh sản bản năng, tự nhiên, đến nay người Việt Nam đã làm chủ trong lĩnh vực này, tức là “sinh đẻ có kế hoạch”, chủ động và có trách nhiệm, chú trọng chất lượng hơn số lượng. Đây là bước chuyển có tính cách mạng trong lĩnh vực sinh sản.Thành tựu nói trên tác động to lớn và tích cực đến tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường; góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, gia đình hạnh phúc.Chính vì vậy, ngay từ năm 1999 Liên Hợp Quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam.Đó là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về thành công của Chương trình DS-KHHGĐ ở nước ta.

Ảnh minh họa

Những thành tựu gắn với công tác giảm sinh

Cơ cấu dân số nước ta thay đổi tích cực: Từ năm 2007 chúng ta bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng với nhóm dân số trong độ tuổi lao động lớn, tạo đà cho sự cất cánh bay lên của đất nước, giai đoạn dân số vàng sẽ kéo dài trong khoảng 30 đến 40 năm nếu chúng ta không tận dụng tốt sẽ rất lãng phí nguồn dân số trẻ trong giai đoạn này để phát triển kinh tế, xã hội.

 Chất lượng dân số từng bước được cải thiện: Chỉ số HDI tăng liên tục đạt mức trung bình cao, dân trí, chất lượng nhân lực cải thiện, chiều cao, thể lực con người tăng, có khoảng 54,4% bà mẹ mang thai và 38,5% trẻ sơ sinh được tầm soát, chẩn đoán, can thiệp và điều trị bệnh tật bẩm sinh, Tuổi thọ tăng 65,5 à 73,5 tuổi, nhu cầu về dịch vụ KHHGĐ của người dân cơ bản được đáp ứng, nhóm dân số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm, được tạo điều kiện tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ dân số-kế hoạch hóa gia đình, mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ ngày càng được củng cố và phát triển, năng lực hệ thống cung ứng dịch vụ KHHGĐ cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của chương trình, Xã hội hóa cung ứng PTTT và dịch vụ KHHGĐ từng bước được đẩy mạnh.

Dân số đã có sự phân bố lại hợp lý hơn trên phạm vi cả nước, Đồng bằng sông Hồng  mật độ dân số đã giảm dần, Tây nguyên & Đông Nam Bộ mật độ dân số tăng khoảng 2 lần, cơ cấu dân số giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền Hải đảo, người Việt Nam ra nước ngoài  và người nước ngoài vào Việt Nam làm việc.

Cùng lúc đối mặt với nhiều vấn đề

Thành công của giảm sinh vừa là thành tựu đồng thời cũng là thách thức đối với công tác dân số trong tình hình mới.

Mức sinh không đồng đều giữa các vùng: Khu vực khó khăn mức sinh cao,
có nơi rất cao tập trung chủ yếu là các tỉnh phía Bắc, miền núi và trung du, các tỉnh Tây nguyên: 33 tỉnh mức sinh 2,2 con,M.núi và TD phía Bắc và Tây Nguyên mức sinh 2,43 conHà Tĩnh  2,83 con; Đô thị, vùng kinh tế - xã hội phát triển mức sinh đã xuống thấp, có nơi rất thấp tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam: 21 tỉnh mức sinh 2,0 con, vùng Đông Nam bộ 1,56 con; Đ.b SCửu long 1,80 con, thành phố Hồ Chi Minh 1,39 con.

Hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh thừa nam thiếu nữ xuất hiện ở nước ta vào năm 2006 với tỷ số là 109/100 và năm 2019 là 111,5/100 vẫn đang ở mức cao, ngày càng lan rộng, cả thành thị và nông thôn.Theo dự báo năm 2050 Việt Nam sẽ dư khoảng 4,3 triệu nam giới, điều này sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khôn lường có thể thấy trước đó là nạn nhập khẩu cô dâu, nhiều nam giới không có khả năng và điều kiện lấy vợ, cấu trúc gia đình bị phá vỡ, nạn mại dâm, nạn buôn bán phụ nữ,...

Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa năm 2011 và giai đoạn dân số già sau 2035, đặc biệt là giai đoạn dân số siêu già khoảng 2045-2050. Thời gian dịch chuyển sang giai đoạn dân số già của Việt Nam có thể sẽ sớm hơn 6 năm so với các nước trên thế giới. Trong khi đó chúng tachưachủ động nghiên cứu, xây dựng chính sách phát huy các thời kỳ: Dân số trẻ - Dân số vàng - Già hóa dân số – Dân số già.

Mặc dù phân bố dân cư trên phạm vi cả nước đã có sự hợp lý hơn, tuy nhiênnăm 2019, nước ta có 96,2 triệu người, là nước đông dân thứ 15 trên thế giới, mật độ dân số nước ta lên tới 290 người/km (Thế giới khoảng 60 người/km2). Nếu so sánh đồng thời cả quy mô và mật độ dân số thì Việt Nam chỉ đứng sau các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines và Bangladesh.Như vậy, Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn và mật độ dân số rất cao. Hơn nữa, tỷ lệ dân đô thị của nước ta còn rất thấp (34,5%) và phân bố dân số rất không đồng đều. Đồng bằng sông Hồng chiếm 6% diện tích đất đai lại là nơi cư trú của 23,4% dân số cả nước (hơn 22,5 triệu người). Trong khi đó, Trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm hơn 45% diện tích đất nước nhưng số dân chỉ chiếm 19,1 % dân số cả nước. Chênh lệch mật độ càng cao khi xét ở cấp tỉnh/thành phố và cấp huyện/quận. Hiện có 8 tỉnh mật độ lên tới trên 1.000 người/km2, riêng Thành phố Hồ Chí Minh trên 4.000 người/km2 nhưng cũng có 9 tỉnh mật độ dưới 100 người/km2. Nhiều quận của  Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mật độ lên đến trên 40.000 người/km2. Đặc biệt, số liệu lịch sử cho thấy chênh lệch mật độ giữa các vùng, các tỉnh/thành phố và quận/huyện ngày càng lớn.

Định hướng mới chương trình dân số Việt Nam

Nghị quyết Số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về “Công tác dân số trong tình hình mới” (Nghị quyết 21) của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII xác định “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển”. Để thực thi điều đó Nghị quyết Số 137-NQ/CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ Nghị quyết ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Số 21-NQ/CP và Chiến lược Dân số đến năm 2030, Chương trình truyền thông dân số và Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030 đã thực sự đưa chính sách dân số sang một bước phát triển mới, nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.Chính sách dân số của Việt Nam luôn mang tính nhân văn, quan tâm đến quyền, lợi ích của mỗi người dân, gia đình và toàn xã hội và cũng luôn được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn.

Thanh Thủy

Bình luận