Nhận thức tình dục và nhận thức vốn xã hội ở học sinh trung học: một nghiên cứu cắt ngang ở nông thôn Việt Nam

Nhận thức tình dục và nhận thức vốn xã hội ở học sinh trung học: một nghiên cứu cắt ngang ở nông thôn Việt Nam

Mục tiêu

Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối liên hệ giữa nhận thức tình dục của học sinh trung học ở nông thôn Việt Nam với lòng tự trọng (LTT) và nhận thức vốn xã hội (VXH), sử dụng dữ liệu từ một nghiên cứu cắt ngang tromg nhóm học sinh tham gia nghiên cứu.

Nếu những phát hiện tương tự được chứng minh ở khu vực nông thôn, các phương pháp tương tự như ở khu vực thành thị có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề về nhận thức tình dục ở tuổi vị thành niên và hành vi tình dục sớm hơn. Những phát hiện từ nghiên cứu này sẽ đóng vai trò là hướng dẫn cho việc phát triển các biện pháp đối phó với các vấn đề liên quan đến sự dễ dãi đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở các nước châu Á.

Đối tượng nghiên cứu

Tháng 3 năm 2017, với sự hợp tác của Trường Đại học Kỹ thuật Trung cấp Hải Dương và Trung tâm Nghiên cứu, Thông tin và Dữ liệu, Bộ Y tế, Văn phòng Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình, các học sinh trung học phổ thông đặc biệt được chọn từ các vùng nông thôn tỉnh Hải Dương.

Để có được mặt cắt ngang các học sinh trung học tiêu biểu của Việt Nam, 1.583 học sinh lớp 11 theo học tại bốn trong số năm trường trung học phổ thông công lập, hệ chính quy, hệ không chính quy trong tỉnh đã được chọn làm người tham gia khảo sát. Chúng tôi đã loại trừ các câu trả lời không phù hợp, chẳng hạn như câu trả lời từ những học sinh không khai báo tuổi hoặc giới tính của mình, thu được mẫu phân tích cuối cùng gồm 1.517 học sinh (95,8% tổng số câu trả lời được thu thập). Mẫu cuối cùng bao gồm 609 trẻ em trai (40,1%) và 908 trẻ em gái (59,9%).

Bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã sử dụng một bảng câu hỏi ẩn danh tự điền để đánh giá các đặc điểm nhân khẩu học của người tham gia (tuổi và giới tính), kiến ​​thức tình dục, nhận thức tình dục (tính lâu dài đối với tình dục trước hôn nhân), nhận thức của nhiều bạn bè đồng nghiệp là có kinh nghiệm tình dục, nhận thức VXH), và mức độ LTT (được đánh giá bởi Thang đo tự trọng Rosenberg, đánh giá mức độ tự tôn và tự tin, với điểm số cao hơn cho thấy lòng tự trọng cao hơn). Điểm Rosenberg trung bình cho sinh viên đại học Mỹ đã được báo cáo là 32,21, nhưng không có dữ liệu nào về sinh viên Việt Nam ngoại trừ những phát hiện trước đây của chúng tôi là trung bình 18,0 ± 3,9 ở Hà Nội và 21,5 ± 2,6 ở thành phố Hồ Chí Minh trong số cả hai trai và gái.

Đối với nghiên cứu này, trước tiên, chúng tôi chuẩn bị một bảng câu hỏi bằng tiếng Anh. Nội dung của bảng câu hỏi này đã được một số nhà nghiên cứu xem xét, và bảng câu hỏi đã được dịch sang tiếng Việt và được người bản ngữ Việt Nam kiểm tra lại. Trước khi bảng câu hỏi được hoàn thiện để sử dụng trong cuộc khảo sát, các nội dung cũng đã được xác nhận bởi đại diện của các trường tham gia.

Phân tích số liệu

Trong nghiên cứu này, mỗi biến được chia thành hai nhóm, so sánh 1) có và không có câu trả lời cho các câu hỏi cho các khía cạnh khác nhau của nhận thức VXH và nhận thức tình dục; 2) câu trả lời đúng và sai cho các câu hỏi về kiến thức tình dục; và 3) điểm LTT cao so với điểm LTT thấp, được phân đôi với điểm LTT trung bình là điểm giới hạn. Sau khi xác nhận rằng không có đa cộng tuyến giữa các biến (tức là chúng độc lập với nhau) bằng cách sử dụng hệ số tương quan thứ hạng của Spearman, các biến đã được chọn để phân tích hồi quy đa biến logistic. Trong phân tích hồi quy đa biến logistic, sự không chấp nhận với quan hệ tình dục trước hôn nhân là biến phụ thuộc và kiến thức về thời điểm thích hợp để sử dụng bao cao su, nhận thức rằng nhiều bạn bè đồng giới có đủ khả năng tình dục và điểm LTT cao được đưa đồng thời vào mô hình là các biến độc lập. Tất cả các phân tích đã được thực hiện bằng IBM SPSS, Phiên bản 24.0.

Kết quả nghiên cứu

Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Trong số 1.517 học sinh ở mẫu cuối cùng, 98,7% ở độ tuổi 16 hoặc 17, và 80,2% sống với cha mẹ và một anh chị em hoặc không có anh chị em - cái gọi là “gia đình hạt nhân”.

Vốn xã hội (VXH)

Kết quả nghiên cứu cho thấy phản ứng của học sinh đối với các mục VXH cấu trúc (structural Social Capital) và nhận thức VXH. Về VXH cấu trúc, hơn 65% sinh viên của cả hai giới trả lời rằng có những sự kiện cộng đồng mà họ có thể tham gia và khoảng 63% nói rằng họ thực sự tham gia vào những sự kiện này. Xét rằng cha mẹ có khả năng đóng góp vào cuộc sống của các cá nhân trong độ tuổi này, các mục về cha mẹ và gia đình đã được đưa vào đánh giá của VXH cấu trúc. Hầu như tỷ lệ trẻ em trai và gái trả lời rằng họ có giao tiếp trong gia đình là như nhau. Chuyển sang nhận thức VXH, khoảng 95% học sinh ở cả hai giới tính trả lời rằng họ có cảm giác hòa nhập với cộng đồng.

Lòng tự trọng

Thang đo Rosenberg Self-Esteem được sử dụng để xác định mức độ của LTT. Điểm trung bình của trẻ em trai là 21,0 ± 2,9 và điểm trung bình của trẻ em gái là 21,0 ± 2,4, không có sự khác biệt đáng kể theo giới tính.

Nhận thức tình dục

Bảng 2 cho thấy phản ứng của học sinh đối với các mục nhận thức về tình dục. So với trẻ em trai, nhiều trẻ em gái chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân hơn. Nhiều trẻ em trai hơn trẻ em gái chấp nhận hành vi tình dục trước hôn nhân trong khi yêu. Tỷ lệ trẻ em trai cao hơn một chút so với trẻ em gái trả lời rằng nhiều bạn cùng lứa tuổi của họ đã có kinh nghiệm tình dục.

Bảng 1. Nhận thức về tình dục

Câu trả lời

Giới

Nam

Nữ

Đồng ý

n (%)

Không đồng ý

n (%)

Đồng ý

n (%)

Không đồng ý

n (%)

Học sinh trung học không nên quan hệ tình dục trước hôn nhân

541 (88,6)

68 (11,4)

868 (95,3)

40 (4,7)

Được phép quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khi yêu

238 (39,1)

371 (60,9)

142 (15,7)

766 (84,3)

Tôi có thể từ chối hành vi tình dục không mong muốn

588 (96,6)

21 (3,4)

894 (98,2)

14 (1,8)

Nếu tôi quan hệ tình dục khi đang học cấp 3, tôi sẽ sử dụng biện pháp tránh thai

567 (93,5)

42 (6,5)

845 (93,3)

63 (6,7)

Đối tác nam có trách nhiệm tránh thai

380 (62,3)

229 (37,7)

324 (35,6)

584 (64,4)

Nhiều bạn bè xung quanh tôi có kinh nghiệm tình dục

412 (67,7)

197 (32,3)

586 (64,5)

322 (35,5)

Kiến thức tình dục

Bảng 3 trình bày những phát hiện về kiến thức của người tham gia về tình dục. Các sinh viên được trình bày danh sách các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các biện pháp tránh thai và chỉ được chọn những mục mà họ đã làm quen và có thể giải thích. Đối với cả nam và nữ, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục duy nhất mà đa số học sinh biết là giang mai và HIV / AIDS. Các biện pháp tránh thai hiện đại được biết đến nhiều nhất cho học sinh ở cả hai giới là bao cao su và viên uống tránh thai. Tuy nhiên, ít hơn 60% người tham gia ở cả hai giới trả lời đúng về thời điểm thích hợp để sử dụng bao cao su hoặc hành động cần thực hiện sau khi bao cao su bị rách. Điều này phản ánh sự chênh lệch lớn giữa kiến thức nhận thức và thực tế.

Bảng 2. Kiến thức về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, các biện pháp tránh thai và sử dụng bao cao su

Câu trả lời

Giới tính

Nam (n=609)

n (%)

Nữ (n=908)

n (%)

Biết các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

Chlamydia

64 (10,4)

84 (9,2)

Bệnh da liễu

304 (49,5)

426 (46,5)

Giang mai

362 (59,0)

550 (60,0)

HIV/AIDS

608 (99,0)

903 (98,6)

Viêm gan B

139 (22,6)

217 (23,7)

Trùng roi âm đạo

169 (27,5)

328 (35,8)

Biết các biện pháp tránh thai

Bao cao su

612 (99,7)

884 (96,5)

Thuốc uống tránh thai

578 (94,1)

883 (96,4)

Kiêng giao hợp vào thời gian rụng trứng

370 (60,3)

598 (65,3)

Xuất tinh ngoài âm đạo

382 (62,2)

299 (32,6)

Dùng dụng cụ tử cung

299 (48,7)

481 (52,5)

Thuốc tiêm tránh thai

350 (57,0)

587 (64,1)

Kiến thức đúng về sử dụng bao cao su

Thời điểm thích hợp để sử dụng bao cao su

 

 

284 (47,3)

 

 

509 (59,7)

Hành động cần làm sau khi bao cao su bị rách

276 (47,6)

338 (40,0)

 

Kiểm tra đồng thời nhiều yếu tố quyết định nhận thức tình dục

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân tích hồi quy đa biến logistic với việc không chấp nhận với quan hệ tình dục trước hôn nhân là biến phụ thuộc. Trong Mô hình 1, kiến thức về thời điểm thích hợp để đeo bao cao su, LTT cao và nhận thức rằng nhiều bạn bè đồng trang lứa đã trải qua tình dục có liên quan đến việc không chấp nhận với hành vi tình dục trước hôn nhân ở học sinh trung học của cả hai giới. Trong Mô hình 2, sau khi bổ sung VXH, ảnh hưởng của kiến thức về thời điểm đeo bao cao su thích hợp, LTT cao và nhận thức rằng nhiều bạn bè đồng giới đã trải qua tình dục đã giảm kích thước đáng kể và không còn đáng kể. Biến thể mới được bổ sung, có ý thức thuộc về cộng đồng, có liên quan đáng kể đến việc không chấp nhận với hành vi tình dục trước hôn nhân, với tỷ lệ chênh lệch (khoảng tin cậy 95%) là 6,88 (4,26–11,09) đối với trẻ em trai và 11,4 (6,69–19,46) ) dành cho các bạn gái.

Bảng 3. Hồi quy đa biến logistic dự đoán các yếu tố liên quan đến việc không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân

Biến

Mô hình 1

Mô hình 2

Nam

OR (95% CI)

P

Nữ

OR (95% CI)

P

Nam

OR (95% CI)

P

Nữ

OR (95% CI)

P

Kiến thức đúng về thời gian sử dụng BCS

 

 

 

 

 

 

 

 

Đúng

2,4

(1,62-3,61)

<0,01

6,6

(4,14-10,36)

<0,01

0,9

(0,56-1,51)

0,75

1,7

(0,98-3,07)

0,06

Chưa đúng

ref

 

ref

 

ref

 

ref

 

Nhận thức rằng nhiều bạn bè đồng giới đã trải qua tình dục

 

 

 

 

 

 

 

 

Không

3,7

(2,6-5,2)

<0,01

6,2

(4,0-9,57)

<0,01

1,1

(0,70-1,85)

0,61

1,5

(0,85-2,65)

0,17

ref

 

ref

 

ref

 

ref

 

Thang đo Rosenberg Self-Esteem

 

 

 

 

 

 

 

 

=< 21

2,8 (1,78-4,53)

<0,01

4,2

(2,29-7,64)

<0,01

1,4

(0,82-2,32)

0,23

1,4

(0,69-2,66)

0,38

> 21

ref

 

ref

 

ref

 

ref

 

Có ý thức thuộc về cộng đồng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6,9

(4,26-11,1)

<0,01

11,48

(6,69-19,46)

<0,01

Không

 

 

 

 

ref

 

ref

 

 

Kết luận

Kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng thanh thiếu niên không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân có VXH cao hơn đáng kể so với những người không chịu quan hệ tình dục trước hôn nhân, ngay cả sau khi xem xét một số yếu tố khác, chẳng hạn như LTT, kiến thức tình dục và nhận thức về việc có nhiều bạn cùng tuổi. với kinh nghiệm tình dục. Do đó, cần phải cung cấp các chương trình chuyên sâu bên cạnh việc giáo dục giới tính thông thường để nâng cao cảm giác thân thuộc với xã hội bằng cách tăng cơ hội tham gia vào các sự kiện địa phương, điều này sẽ giúp giảm việc bắt đầu hành vi tình dục ở thanh thiếu niên.

Nguồn: The Japanese Association of Rural Health Medicine. Sexual awareness and cognitive social capital among high school students: A cross-sectional study in rural Vietnam. Journal of Rural Medicine, 2020; 15(4):132-138.

Bình luận